Hoà nhập xã hội

Ứng dụng các phương pháp truyền thông sáng tạo (LICM)

Bối cảnh

Các nhóm yếu thế và bị phân biệt đối xử như người khuyết tật, người già, người có khuynh hướng tình dục khác và người có H thường e ngại, sống tự tách biệt và cảm thấy xấu hổ hoặc thường xuyên tự vấn bản thân.

Hành động của MCNV

Để hỗ trợ những nhóm yếu thế vượt qua sự e ngại và khuyến khích họ tham gia đối thoại với cộng đồng, MCNV đã thử nghiệm nhiều với việc sử dụng các phương pháp truyền thông sáng tạo. MCV sử dụng khái niệm “phương pháp truyền thông sáng tạo” để chỉ các cách thức sáng tạo và thú vị trong truyền thông ví dụ như sân khấu dựa vào cộng đồng, kịch bóng mờ, kể chuyện, ca hát, nhảy múa và làm phim có sự tham gia.

Những kinh nghiệm thành công của MCNV khiến chúng tôi quyết định mở rộng việc ứng dụng các phương pháp truyền thông sáng tạo đến những lĩnh vực khác như nâng cao năng lực về các vấn đề sức khỏe, vận động chính sách trong việc thu nhặt rác thải và sức khỏe sinh sản và tình dục. Các phương pháp truyền thông sáng tạo mà MCNV hỗ trợ sử dụng ở Việt Nam bao gồm các tiếp cận dựa vào sân khấu, múa rối, làm phim có sự tham gia, nhảy múa và hát dân ca.

 

Các thành tựu đạt được

Việc sử dụng các hình thức nghệ thuật đã cải thiện vị thế xã hội của cả Hội Y tế thôn bản và các tổ chức dựa vào cộng đồng. Bên cạnh đó, thành viên Hội y tế thôn bản và các tổ chức cộng đồng trở nên tự tin hơn trong việc sử dụng các loại hình nghệ thuật và it e ngại trong nói chuyện trước đám đông. Trong năm 2015, Hội người khuyết tật và Hội người cao tuổi ở các khu vực dân tộc thiểu số của tỉnh Quảng Trị đã vận động được 750 triệu đồng từ các cộng đồng thông qua các chiến dịch và các sự kiện cộng đồng. Tại các sự kiện này họ đã biểu diễn kịch và các tiết mục văn nghệ. Số tiền này sẽ được sử dụng để duy trì các hoạt động phát triển cộng đồng. Các phương pháp truyền thông sáng tạo cũng chứng tỏ là đã có những đóng góp tích cực trong việc vận động chính sách. Ví dụ như vào năm 2014, Hội người cao tuổi tỉnh Quảng Trị đã vận động thành công cho việc tăng ngân sách của cấp huyện dành cho sức khỏe người cao tuổi bằng cách tổ chức các sự kiện vận động và sử dụng truyền thông sáng tạo.

Kế hoạch tương lai

Gần đây, MCNV đã nhận được nguồn tài trợ từ tổ chức Oxfam Novib và HIVOS để thử nghiệm các phương pháp truyền thông sáng tạo tại Lào. MCNV sẽ hỗ trợ ba nhóm thanh niên dễ bị tổn thương là thanh niên khuyết tật, người song tính, đồng tính và chuyển giới và trẻ em gái làm việc tại các nhà máy dệt ở Lào trong việc sử dụng truyền thông sáng tạo để nâng cao năng lực cho các bạn trẻ và để vận động chính sách. Dự án này tạo điều kiện để MCNV có thể nhân rộng kinh nghiệm của mình và phát huy tác dụng của phương pháp này hơn nữa.

Đọc thêm

Hỗ trợ phụ nữ sống chung và bị ảnh hưởng bởi HIV

Bối cảnh

Đại dịch HIV xuất hiện tại Việt Nam từ thập niên 1990 và đã trở thành vấn đề lớn đối với y tế cộng đồng. Cho đến năm 2015, tổng số người sống chung với H tại Việt Nam thống kê được là 227.000 người, trong đó hơn 70.000 người tử vong do HIV/AIDS. Hàng năm ước tính có khoảng 14.000 ca HIV nhiễm mới.

Qua hơn 12 năm triển khai các dự án hỗ trợ và can thiệp về HIV, MCNV đã có những đóng góp tích cực trong việc thành lập và hỗ trợ nhóm chị em phụ nữ sống chung với H có tên gọi Hoa Hướng Dương. Đây là một tổ chức xã hội dựa vào cộng đồng hoạt động tại bảy tỉnh phía Bắc Việt Nam. Thông qua việc đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ chuyển gửi, tiếp cận bảo hiểm y tế, hỗ trợ xã hội… chương trình đã giúp phụ nữ sống chung với H được tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ y tế, tạo điều kiện cho họ được nâng cao sức khỏe, đảm bảo chất lượng cuộc sống.

Các hoạt động và thành tựu

Từ năm 2004, MCNV bắt đầu hỗ trợ  thành lập một nhóm phụ nữ có H tại Hà Nội. Mục đích ban đầu của nhóm đơn giản là nếu các chị em phụ nữ có thai thì họ sẽ được tiếp cận thông tin và thuốc men để dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con. Dự án thí điểm này đã mang lại nhiều thành công với những mục tiêu ban đầu. Với sự tài trợ từ Đại sứ quán Hà Lan, chương trình này tiếp tục được mở rộng ra 03 tỉnh từ năm 2006 đến 2009. Trong giai đoạn ba, những thành tựu của chương trình tiếp tục được phát huy và mô hình hoạt động được điều chỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu của những người yếu thế sinh sống ở vùng núi xa xôi hẻo lánh. Từ năm 2010, chương trình được mở rộng và bao phủ 07 tỉnh và mạng lưới Hoa Hướng Dương đã hỗ trợ hơn 1.500 phụ nữ sống chung và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và gia đình của họ.

Những nhóm Hoa Hướng Dương đã minh chứng rằng, chính họ có thể vượt qua những trở ngại để có một cuộc sống năng động và trọn vẹn. Sự hỗ trợ của dự án được thực hiện dưới nhiều hình thức, bao gồm: tư vấn và chăm sóc tại nhà và trong bệnh viện, hỗ trợ phát triển sinh kế, hỗ trợ giáo dục trẻ em và các hoạt động gắn kết với cộng đồng nhằm giảm phân biệt và kỳ thị. Trải qua hơn 12 năm, chương trình đã chứng tỏ rằng, khi phụ nữ sống chung với H làm việc cùng nhau với tinh thần tự tin họ sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, góp phần tạo nên sự thay đổi và phát triển.

Từ năm 2012, sau khi bàn giao dự án cho các đối tác địa phương, mạng lưới Hoa Hướng Dương đã hoạt động một cách độc lập hơn với sự điều hành của Ban điều phối cấp quốc gia, và các trưởng nhóm của mỗi nhóm Hoa Hướng Dương tại các tỉnh. Hoa Hướng Dương tiếp tục duy trì các hoạt động hỗ trợ tiếp cận dịch vụ y tế, nâng cao thu nhập và hỗ trợ xã hội thông qua các hoạt động như họp nhóm hàng tháng, hỗ trợ vốn vay và các sự kiện hỗ trợ khác. Trong giai đoạn này, Mạng lưới đã vượt qua nhiều khó khăn để duy trì các nhóm tại các tỉnh và chính mạng lưới để duy trì các hoạt động có giá trị thiết thực cho chị em yếu thế. Với kết quả đó, hơn 1.100 phụ nữ sống chung với H thường xuyên có cơ hội gặp gỡ và chia sẻ trong các cuộc họp hàng tháng.

Trong những năm gần đây, nhận thấy tầm quan trọng của bảo hiểm y tế với người có H, MCNV đã hỗ trợ bảo hiểm y tế cho các thành viên nhóm Hoa Hướng Dương. Nhờ có sự giúp đỡ của dự án mà rất nhiều phụ nữ nghèo có H – những người không thể mua hoặc không có thói quen mua bảo hiểm đã có được loại bảo hiểm này. Để tạo thói quen mua bảo hiểm, chương trình đã tổ chức nhiều cuộc nói chuyện chia sẻ về những lợi ích của bảo hiểm y tế, đặc biệt với người có H, trước khi họ nhận được hỗ trợ bảo hiểm. Vì thế hiện nay 100% các thành viên đều được bảo hiểm y tế bảo vệ sức khỏe.

Bên cạnh đó, hàng loạt những hoạt động tập huấn kỹ năng làm cha mẹ cho ông bà nuôi cháu mồ côi (do HIV), tập huấn về bệnh viêm gan B, C, tuân thủ điều trị ARV, nuôi lợn nái sinh sản, hỗ trợ vốn vay …vẫn được triển khai để bảo vệ sức khỏe, cải thiện đời sống cho nhóm phụ nữ yếu thế một cách bền vững và hiệu quả.

Định hướng tương lai

Sau hơn 2 năm gần đây với sự hỗ trợ kỹ thuật và lượng kinh phí tối thiểu, mạng lưới Hoa Hướng Dương được nâng cao năng lực và khả năng làm việc ngày càng độc lập hơn với vai trò của một tổ chức xã hội dựa vào cộng đồng của những phụ nữ sống chung với H. Chúng tôi hy vọng sau khi MCNV hoàn toàn ngừng hỗ trợ, mạng lưới Hoa Hướng Dương tiếp tục tự đứng vững để đem lại lợi ích thiết thực cho các chị em yếu thế có cùng hoàn cảnh.

Đọc thêm

Phát triển các tổ chức xã hội dân sự

Bối cảnh

Các tổ chức cộng đồng được hiểu là các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, hoạt động trên tinh thần tự chủ, tự nguyện, với lực lượng thành viên là những người có cùng mối quan tâm.

Vai trò của MCNV

Trong những năm qua, MCNV hợp tác với nhiều tổ chức cộng đồng, thông qua những tổ chức này để hỗ trợ các nhóm đối tượng khác nhau như người cao tuổi, người khuyết tật (NKT), người dân tộc thiểu số, phụ nữ sống chung với HIV/AIDS, giúp họ cải thiện chất lượng cuộc sống và đóng góp cho sự phát triển của xã hội.

Hội Người khuyết tật giúp NKT chia sẻ những tâm tư, nguyện vọng, lập kế hoạch phát triển cá nhân và có thể hỗ trợ hiện thực hoá những ước mơ, hoài bão của mình. Hội NKT chúng tôi đã được nâng cao năng lực để có thể hỗ trợ một cách toàn diện cho từng hội viên, nhóm hội viên và gia đình của họ (trích lời một NKT ở Quảng Trị, năm 2015)

Ngoài việc hợp tác với nhiều tổ chức cộng đồng ở Lào và Việt Nam, trong vài năm qua MCNV cũng hỗ trợ xây dựng năng lực cho các tổ chức cộng đồng ở các nước Georgia, Sri Lanka và Tajikistan.

Bên cạnh các tổ chức cộng đồng, MCNV cũng phối hợp chặt chẽ với các tổ chức phi chính phủ địa phương trong các hoạt động dự án, chẳng hạn như hợp tác với các Hội Y tế thôn bản ở các tỉnh Cao Bằng, Quảng Trị và Phú Yên

Chúng tôi sống và làm việc gần với dân nhất nên thường được gọi là “cánh tay nối dài” của ngành y tế. Hội Y tế thôn bản (YTTB) chúng tôi được thành lập vào năm 2006, hiện nay có 1.115 hội viên trên 138 xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh. Từ những kinh nghiệm hoạt động của chúng tôi, các tỉnh Cao Bằng và Phú Yên cũng đã thành lập Hội YTTB lần lượt vào các năm 2010 và 2011. Chúng tôi hỗ trợ các Hội/CLB người khuyết tật và Hội người cao tuổi trong nhiều hoạt động khác nhau. Chúng tôi cũng giúp các tổ chức cộng đồng xây dựng các tiểu phẩm kịch hoặc làm phim để phục vụ cho các hoạt động vận động chính sách hỗ trợ. (Phỏng vấn thành viên Ban thường vụ Hội YTTB Quảng Trị năm 2015).

Các tổ chức cộng đồng đại diện cho tiếng nói và quyền lợi của các nhóm chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội. Thông qua các tổ chức cộng đồng, các hội viên có thể học hỏi và tương trợ lẫn nhau, giúp nhau khắc phục những khó khăn trong cuộc sống, đồng thời tham gia vận động thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.

Các tổ chức cộng đồng có thể hợp tác với nhiều bên liên quan khác nhau để thực hiện các sáng kiến hoặc hướng tiếp cận mới mẻ trong phát triển sức khỏe và phát triển sinh kế bền vững. Ví dụ, ở Lào, các tổ chức cộng đồng dưới tên gọi Ban phát triển thôn đã phối hợp với Phòng Nông nghiệp huyện để thí điểm trồng trọt các giống lúa mới, chăn nuôi gia súc và nuôi cá.

Mối quan hệ và tin tưởng lẫn nhau giữa người dân và các đơn vị tuyến huyện đã được cải thiện. Ban phát triển thôn nắm rõ nhu cầu của các nhóm dân tộc thiểu số trong vùng. Điều đó giúp các bên trao đổi, chia sẻ với nhau nhiều hơn và cùng nhau gặt hái được nhiều kết quả tốt hơn trong quá trình can thiệp dự án ở các thôn, bản. (Phỏng vấn cán bộ tư vấn tham gia đánh giá dự án ở Lào năm 2014).

Đọc thêm

Hỗ trợ người khuyết tật

Bối cảnh

Khoảng 7,8% người Việt Nam là người khuyết tật (NKT) và khoảng 75% NKT sống ở khu vực nông thôn. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền của Người khuyết tật. Theo đó, Chính phủ cam kết bảo đảm quyền của NKT dựa trên nguyên tắc bình đẳng về cơ hội và phát triển hòa nhập trong một xã hội không rào cản. Để thực hiện các quyền này, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật người khuyết tật. Trên cơ sở này, trong 10 năm qua, Chính phủ đã xây dựng và ban hành nhiều chính sách hỗ trợ NKT, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, giáo dục, an sinh xã hội và đào tạo nghề.

Vấn đề

Tuy nhiên, nhiều NKT vẫn bị tách biệt trong cuộc sống. Khoảng 35% trẻ khuyết tật ở độ tuổi tiểu học chưa từng bao giờ đi học trong khi con số này ở nhóm trẻ không khuyết tật là 3%. Vẫn còn khoảng 42% NKT có thể làm việc và mong muốn được làm việc nhưng không thể tìm được việc làm; con số này ở nhóm người không khuyết tật là 4%. NKT đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển kinh tế – xã hội và trong cuộc sống khi họ không thể tiếp cận được các phương tiện giao thông hoặc công trình công cộng; không thể tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội do ít tiếp cận được với thông tin và truyền thông; không thể hưởng lợi từ quá trình phát triển vì tiếng nói của họ không được lắng nghe và nhu cầu của không được tính đến trong thiết kế các chương trình. Nguyên nhân là do năng lực hạn chế của các bên cung cấp dịch vụ công trong quá trình thực thi chính sách và của cả NKT trong việc lên tiếng, thể hiện nhu cầu trong khi kỳ thị và phân biệt đối xử đối với NKT vẫn còn tồn tại.

Vai trò của MCNV

Nhiều năm qua, MCNV đã và đang đầu tư nhiều nguồn lực để thực hiện các hoạt động hỗ trợ hòa nhâp cho NKT ở Việt Nam. Chương trình hỗ trợ NKT được bắt đầu với các hoạt động Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (CBR) như là một phần trong Chương trình phát triển sức khỏe do cộng đồng quản lý (CMHD) ở tỉnh Quảng Trị vào đầu những năm 1990. Sau đó, các hoạt động được mở rộng và triển khai tại các tỉnh Đăk Lăk (1998), Cao Bằng (2001), Phú Yên (2002), Khánh Hòa (2005) và Điện Biên (2014). Hiện tại, Chương trình hỗ trợ NKT của MCNV có bốn hợp phần, gồm:

  • Phục hồi chức năng y tế
  • Giáo dục hòa nhập
  • Tăng thu nhập
  • Tăng cường năng lực cho NKT và các tổ chức của NKT

Chương trình hỗ trợ NKT được thực hiện với sự hợp tác của các đối tác nhà nước từ cấp trung ương đến địa phương, dựa trên hệ thống dịch vụ công có sẵn. MCNV luôn luôn huy động sự tham gia của NKT và gia đình trong suốt quá trình thực hiện chương trình. Chương trình chú trọng vào việc tạo ra các dịch vụ mới phù hợp với hoàn cảnh văn hóa và nguồn lực của địa phương nhằm mục đích tạo ra những thay đổi bền vững về chất lượng cuộc sống của NKT. Chương trình cũng tập trung nhiều nguồn lực để xây dựng năng lực cho các bên liên quan từ cấp độ cá nhân, bao gồm cả NKT, đến cấp độ thể chế/mạng lưới. Tất cả những hỗ trợ cho NKT đều dựa trên nhu cầu thực tế của bản thân NKT và được cung cấp, quản lý với sự tham gia đầy đủ của NKT.

Kết quả đạt được

Hơn 20.000 NKT, trẻ em khuyết tật và gia đình của NKT đã được hưởng lợi từ các hoạt động hỗ trợ về y tế, giáo dục, tài chính và xã hội của chương trình. Khoảng 60% NKT cải thiện được tình trạng tự lập của mình trong cuộc sống hằng ngày nhờ vào các hoạt động hỗ trợ phục hồi chức năng tại nhà và dịch vụ chuyển tuyến. 70% NKT nghèo thoát khỏi tình trạng nghèo nhờ vào các hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật cho các hoạt động tăng thu nhập. 88% trẻ khuyết tật ở tuổi đi học trên địa bàn dự án được tiếp cận với giáo dục phù hợp. Tổng cộng có 47 Hội NKT được hỗ trợ để góp tiếng nói và bày tỏ quan điểm của NKT thông qua kênh truyền thông và các cuộc đối thoại về chính sách và dịch vụ ở tại cộng đồng của họ. Những Hội NKT này đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho 55% thành viên của mình tham gia vào các hoạt động thể thao và xã hội ở tất cả các cấp. Mô hình CBR do MCNV khởi xướng được Bộ Y tế ghi nhận, đưa vào chính sách về phục hồi chức năng và được các địa phương khác học tập và áp dụng.

Định hướng tương lai

MCNV sẽ áp dụng các bài học kinh nghiệm hỗ trợ NKT cho những địa bàn mới, ưu tiên khu vực Tây Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long. Chương trình sẽ chú trọng vào việc thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa các bên liên quan để lồng ghép vấn đề khuyết tật vào các chương trình phát triển chung của cộng đồng xã hội. Các dự án cụ thể sẽ được thiết kế cho NKT và các tổ chức, hội của NKT nhằm tăng cường năng lực vận động chính sách về quyền của NKT. MCNV cũng sẽ củng cố mối quan hệ hợp tác với Bộ Y tế và các Bộ ngành liên quan trong việc xây dựng nguồn nhân lực liên quan đến khuyết tật, đồng thời cũng sẽ thu thập bằng chứng về chi phí – hiệu quả của các can thiệp để làm căn cứ vận động chính sách.

Đọc thêm

Tăng quyền cho phụ nữ

Bối cảnh

Tăng quyền cho phụ nữ là quá trình phát triển toàn diện cho phép người phụ nữ kiểm soát cuộc sống và quyết định tương lai của chính họ. Tăng quyền cho phụ nữ là quá trình phát triển toàn diện cho phép người phụ nữ kiểm soát cuộc sống và quyết định tương lai của chính họ. MCNV tập trung tăng quyền cho các nhóm phụ nữ yếu thế nhất, bao gồm phụ nữ sống tại khu vực nông thôn chịu ảnh hưởng nặng nề từ biến đổi khí hậu, phụ nữ dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa và phụ nữ sống chung với HIV/AIDS. Tại các dự án mà MCNV thực hiện, tăng quyền cho phụ nữ đã trở thành chủ đề xuyên suốt để giải quyết các vấn đề bình đẳng giới và phát triển cho phụ nữ. Tại tỉnh Bến Tre, chương trình Tăng quyền cho phụ nữ do MCNV hỗ trợ đã và đang cung cấp các hỗ trợ toàn diện cho phụ nữ, từ hòa nhập về kinh tế thông qua tài chính vi mô tới vấn đề tăng quyền tham chính cho phụ nữ thông qua bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp.

Các kết quả đạt được

Thông qua các dự án tài chính vi mô, MCNV đã tăng sự tiếp cận cho hơn 10 nghìn phụ nữ nghèo đến các dịch vụ tài chính tại Việt Nam. Tiếp cận được dịch vụ tài chính đã tạo ra nhiều thay đổi tích cực trong cuộc sống cho phụ nữ nghèo. Người phụ nữ Việt Nam phải đảm đương hai trọng trách cùng lúc, một là phải chăm lo cho gia đình và con cái và hai là phải tham gia lao động để kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Phụ nữ sống tại khu vực nông thôn gần như không thể tìm được một công việc có thu nhập ổn định vì họ không thể từ bỏ gia đình để lên các thành phố lớn làm việc. Do đó giúp cho phụ nữ nông thôn tự tạo việc làm thông qua sản xuất kinh doanh tại hộ gia đình chính là cách hữu hiệu để tạo cơ hội cho phụ nữ kiếm thêm thu nhập đồng thời vẫn đảm bảo nhiệm vụ chăm sóc gia đình. Chương trình Tài chính vi mô tại tỉnh Bến Tre cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng bao gồm tín dụng hộ gia đình, tiết kiệm, bảo hiểm y tế, vốn vay cho nhóm sản xuất, vốn vay xây bể chứa nước để ứng phó hạn mặn… kết hợp với giáo dục tài chính cho phụ nữ nghèo. Chương trình này đã giúp hơn 1000 phụ nữ nghèo cải thiện thu nhập và địa vị trong cộng đồng.

Con bò là tài sản lớn của phụ nữ nghèo. Phụ nữ nghèo sẽ tăng tự tin trong cuộc sống khi tích lũy được tài sản.

Tham gia các hoạt động hỗ trợ về tài chính vi mô và cải thiện sinh kế của MCNV, phụ nữ đã trở nên tích cực hơn trong các hoạt động cộng đồng. Các cuộc họp nhóm thường kỳ (hàng tháng) đã tạo cơ hội để họ thảo luận và chia sẻ các vấn đề họ gặp phải, trao đổi kinh nghiệm trong cuộc sống và sản xuất kinh doanh và học hỏi lẫn nhau. Từ các dự án của MCNV chúng tôi nhận thấy rằng các nhóm tự lực đã góp phần quan trọng trong tăng quyền cho nhóm người nghèo và nhóm kém hòa nhập xã hội. Phụ nữ nghèo tại Bến Tre sau khi tham gia dự án đã trở nên tự tin hơn và có nhiều kinh nghiệm quý trong sản xuất kinh doanh. Mối quan hệ tình làng nghĩa xóm cũng được cải thiện và nam giới cũng tham gia hỗ trợ phụ nữ nhiều hơn trong công việc.

Monthly credit group meetings is a good opportunity to learn and share among poor women

Họp nhóm tín dụng hàng tháng là cơ hội cho phụ nữ nghèo học tập và chia sẻ kinh nghiệm

Một bước tiến lớn trong nỗ lực tăng quyền là sự cải thiện khả năng tham chính cho phụ nữ. Thông qua việc tăng số lượng thành viên nữ trong Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, quyền và tiếng nói của phụ nữ sẽ được lắng nghe và tôn trọng nhiều hơn. Tỉnh Bến Tre là tỉnh đầu tiên tại Việt Nam với sự hỗ trợ từ MCNV đã triển khai dự án “Tăng tỷ lệ trúng cử cho phụ nữ thông qua bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp”. Dự án này cũng đã áp dụng nhiều công cụ hữu hiệu như dùng các khảo sát trực tuyến để nắm bắt ý kiến và nguyện vọng của người dân.

Ben Tre women who joined MCNV capacity training for People Committee election's candidates

Phụ nữ tỉnh  Bến  Tre tham gia tăng cường năng lực để ứng cử HĐND các cấp

Tỷ lệ trúng cử HĐND của phụ nữ tại tỉnh Bến Tre trong kỳ bầu cử 2016 đã tăng mạnh thông qua dự án can thiệp theo hướng: (i) Cải thiện cách nghĩ và làm của lãnh đạo các cấp thông qua các hội thảo định hướng về quyền và ưu tiên cho phụ nữ tham chính; (ii) Cải thiện kỹ năng vận động tranh cử cho phụ nữ tham gia ứng cử lần đầu và (iii) Cải thiện nhận thức và hỗ trợ từ người dân trong cộng đồng đối với cử tri nữ thông qua các cuộc tiếp xúc và truyền thông tại xã.

Tỷ lệ tham gia của phụ nữ trong HĐND các cấp sau kỳ bầu cử 2016 tại Bến Tre đã đạt 28%, tăng mạnh so với tỷ lệ 22% của kỳ trước. Thông qua khảo sát trực tuyến đánh giá tác động của dự án, 25% số người trả lời cho rằng dự án là yếu tố quyết định và 63% cho rằng dự án góp phần quan trọng dẫn tới sự thay đổi này.

Định hướng tương lai

Trong thời gian tới MCNV sẽ tăng cường các hoạt động tăng quyền cho phụ nữ và chia sẻ kinh nghiệm của mình với các tỉnh thành khác tại Việt Nam và với các nước khác. Chúng tôi đang hợp tác với Trung tâm Phụ nữ và Phát Triển để khởi động một dự án làm phim, để thực hiện các phim ngắn về những kinh nghiệm và thực tiễn tốt nhất về sự phát triển của phụ nữ. Những thước phim này sẽ được chia sẻ rộng rãi thông qua mạng xã hội cũng như các cấp Hội phụ nữ để góp phần thúc đẩy sự phát triển của phụ nữ nói chung.

Dự án tài chính vi mô tại huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre sẽ được mở rộng thêm tại các xã mới để cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho phụ nữ nghèo hướng tới thay đổi cuộc sống. Dự án này hiện tại cũng đang đóng góp tích cực giúp cho phụ nữ nghèo thích ứng với hạn mặn thông qua việc cấp tín dụng xây bể chứa nước ngọt để đảm bảo đời sống cho người nghèo trong mùa khô hạn.

Từ năm 2016, MCNV đã hỗ trợ thành lập và phát triển 5 tổ hợp tác dành cho phụ nữ nghèo tại tỉnh Bến Tre. Phát triển các doanh nghiệp vi mô sẽ tạo công ăn việc làm ổn định cho phụ nữ đồng thời giúp họ cải tiến chất lượng sản phẩm để tạo ra thương hiệu cho địa phương.

Đọc thêm