Dự án Hòa nhập IIb: 28 cán bộ y tế hoàn thành đào tạo kỹ thuật chuyên môn về Hoạt Động Trị liệu và Ngôn Ngữ Trị Liệu cơ bản
Dự án Tăng cường chất lượng trái cây Việt Nam
Dự án này nhằm mục đích góp phần củng cố vị thế của người trồng cây ăn quả tại bốn tỉnh dễ bị tổn thương ở Việt Nam, dựa trên thực tiễn sản xuất và phân phối bền vững, đầu ra định hướng thị trường và vị thế lâu dài trên thị trường trong nước và quốc tế, tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế bền vững và tạo cơ hội việc làm. Trong cách tiếp cận này, cải thiện chất lượng trái cây là trọng tâm. Dự án này nằm trong chiến lược của Đại sứ quán Hà Lan tại Việt Nam về chuyển đổi nông nghiệp bền vững ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoàn thành đào tạo khóa Cử Nhân Ngôn Ngữ Trị Liệu thứ hai & Hoạt Động Trị Liệu thứ ba (Trường ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương)
Lễ tốt nghiệp là một dịp để nhìn lại những mốc phát triển quan trọng trong hoạt động đào tạo nhân lực HĐTL, NNTL:
Từ chỗ chưa có chương trình đào tạo chính quy về hai chuyên ngành này, tới nay Trường ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương đã hoàn thành đào tạo 03 khóa Cử nhân HĐTL và 02 khóa Cử nhân NNTL hệ chính quy với tổng số 65 Cử nhân. Tháng 3 năm 2026, chương trình Cử nhân HĐTL đã được công nhận đạt chuẩn đào tạo của Liên đoàn HĐTL thế giới (WFOT).
Trường ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương là một trong những cơ sở đào tạo được MCNV hỗ trợ xây dựng và phát triển chương trình đào tạo Cử nhân HĐTL và NNTL – hai chuyên ngành chưa có hệ đào tạo chính quy tại Việt Nam trước năm 2015. Hoạt động được thực hiện với nguồn tài trợ từ chính phủ Hoa Kỳ thông qua tổ chức Humanity & Inclusion Vietnam, VietHealth trong giai đoạn 2015-2022.
Từ 2023 đến nay, hoạt động phát triển đào tạo nhân lực HĐTL và NNTL vẫn đang được MCNV tiếp tục tài trợ và triển khai với đối tác kỹ thuật là tổ chức Trinh Foundation Australia.
Các hoạt động đã và đang được MCNV triển khai trong 11 năm qua gồm: Nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên HĐTL, NNTL (đạt trình độ Thạc sĩ trở lên), Xây dựng chương trình và biên soạn tài liệu giảng dạy, Hỗ trợ trang thiết bị thực hành, Triển khai đào tạo hệ Cử nhân Kỹ thuật PHCN (chuyên ngành HĐTL & NNTL), Hỗ trợ các hoạt động trao đổi chuyên môn, Phát triển mạng lưới nghề nghiệp.
“Điều tôi tâm đắc nhất trong quá trình học tập HĐTL đó là sự dẫn dắt tận tâm của các thầy cô, từ việc giảng giải cụ thể về khái niệm HĐTL, giải thích cặn kẽ các kiến thức chuyên sâu, chia sẻ tài liệu tham khảo, kinh nghiệm lâm sàng. Chúng tôi cũng nhận được sự hỗ trợ vô cùng thiết thực từ MCNV về nhiều mặt, như trang thiết bị thực hành, các chương trình hội thảo, khóa học, các buổi sinh hoạt chuyên môn hữu ích với chuyên gia trong nước và quốc tế.” (Cử nhân HĐTL Lê Thị Phương Anh – Sinh viên Giỏi toàn khóa 2026),
“Với sự hỗ trợ của MCNV, chúng tôi có cơ hội được học tập và đi lâm sàng cùng các chuyên gia NNTL đến từ Úc. Trong quá trình này, sinh viên được học hỏi về kỹ năng chuyên môn như cách xây dựng mục tiêu điều trị, điều chỉnh kế hoạch can thiệp phù hợp với từng trường hợp cụ thể và cách giao tiếp hiệu quả với bệnh nhân và người nhà !” (Cử nhân NNTL Lê Thị Thu Uyên – Sinh viên Giỏi toàn khóa 2026).
Trước đó, ngày 11/8/2026, Khoa Phục hồi Chức năng (PHCN), Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương đã tổ chức chương trình Báo cáo Nghiên cứu Khoa học lần thứ II (năm học 2026–2027). ThS. Phạm Dũng – Trưởng Văn phòng Đại diện MCNV đã tham dự sự kiện với vai trò Trưởng Ban Giám khảo.

Các giảng viên và sinh viên đã mang đến 11 báo cáo chất lượng thuộc 3 chuyên ngành: Vật lý trị liệu, Hoạt động trị liệu, Ngôn ngữ trị liệu bằng hình thức báo cáo miệng và trình bày poster. Những báo cáo là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu nghiêm túc, trong đó có hoạt động thực tập tốt nghiệp tại các cơ sở y tế như Bệnh viện TW Quân đội 108, Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện PHCN Hà Nội, và Bệnh viện PHCN Hải Dương.

Những đề tài nghiên cứu đa dạng về PHCN đã được trình bày như trong đó có PHCN cho hội chứng cổ vai, hoạt động chức năng của người bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, sức khỏe tinh thần người chăm sóc người bệnh đột quỵ, chức năng sinh hoạt ở người bệnh đột quỵ, khảo sát nguy cơ té ngã, rối loạn lời nói, rối loạn phát triển lan tỏa, mất ngôn ngữ, hội chứng lãng quên nửa người, các vấn đề giao tiếp ở trẻ tự kỷ, trẻ bại não.
Bước tiến mới trong đào tạo nhân lực Ngôn ngữ trị liệu tại Việt Nam
TĐO – Khóa Cử nhân Ngôn ngữ trị liệu thứ hai tại Trường Đại học Kỹ thuật Y – Dược Đà Nẵng tốt nghiệp vào cuối tháng 5/2026 đánh dấu bước tiến bền vững trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho một chuyên ngành trẻ tại Việt Nam.
(Link bài viết: https://thoidai.com.vn/buoc-tien-moi-trong-dao-tao-nhan-luc-ngon-ngu-tri-lieu-tai-viet-nam-755766.html)

Đại diện Trường ĐH KTYD Đà Nẵng, MCNV, TFA và AVP cùng các Cử nhân khóa 2 NNTL tại lễ tốt nghiệp ngày 30/5/2026.
Phát triển nhân lực đáp ứng nhu cầu thực tiễn
Ngôn ngữ trị liệu (NNTL) là một ngành sức khỏe ứng dụng, nghiên cứu và cung cấp các dịch vụ về đánh giá, chẩn đoán, tạo chức năng, phục hồi chức năng, tư vấn và phòng ngừa cho người có rối loạn về ngôn ngữ, giọng nói, độ lưu loát trong giao tiếp, nhận thức và nuốt do sự rối loạn, chậm trễ trong phát triển hoặc do chấn thương, ung thư, đột quỵ hoặc các bệnh thần kinh tiến triển. Mặc dù đã phát triển trên thế giới gần 100 năm, tại Việt Nam, NNTL chỉ được biết đến và hình thành trong khoảng 15 năm nay.
Theo kết quả “Điều tra Người khuyết tật năm 2023” do Cục Thống kê thực hiện trên quy mô toàn quốc, 6,11% dân số từ 2 tuổi trở lên (khoảng 6,2 triệu người) có ít nhất một dạng khuyết tật. Tình trạng già hóa dân số, sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm (đột quỵ, sa sút trí tuệ, các bệnh thần kinh tiến triển…) làm gia tăng đáng kể nhu cầu về dịch vụ NNTL tại Việt Nam. Tuy nhiên, hạn chế về nhân lực khiến tỉ lệ người dân được tiếp cận dịch vụ NNTL còn rất thấp. Theo nghiên cứu “Khảo sát Nhu cầu Đào tạo NNTL tại Việt Nam” do MCNV thực hiện năm 2018, ở thời điểm cuối năm 2017, Việt Nam chỉ có khoảng 65 người được đào tạo và có kiến thức, kỹ năng cần thiết để cung cấp dịch vụ NNTL.
Với mục tiêu xây dựng nền tảng đào tạo chính quy nhằm cung cấp nguồn nhân lực NNTL có chất lượng cho đất nước, Dự án “Phát triển Đào tạo NNTL tại Việt Nam” đã được triển khai bởi Ủy ban Y tế Hà Lan – Việt Nam (MCNV) từ năm 2017 với đối tác kỹ thuật là tổ chức Trinh Foundation Australia (TFA), Đại học (ĐH) Y Dược TP.HCM, Trường ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương và Trường ĐH Kỹ thuật Y- Dược Đà Nẵng với nguồn tài trợ từ Chính phủ Hoa Kỳ và MCNV.
Từ năm 2017 đến nay, Dự án đã hỗ trợ mở mã ngành và hoàn thành đào tạo hai khóa Thạc sĩ NNTL tại ĐH Y Dược TP.HCM; xây dựng và thực hiện chương trình Cử nhân chính quy tại ĐH Y Dược TP.HCM, Trường ĐH Kỹ thuật Y – Dược (KTYD) Đà Nẵng và Trường ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương.
Tại Trường ĐH KTYD Đà Nẵng, chương trình Cử nhân NNTL được triển khai từ năm 2019. Tháng 5/2026, khóa thứ hai với tổng số 16 Cử nhân ra trường. Việc hoàn thành khóa đào tạo này không chỉ góp phần bổ sung nguồn nhân lực mà còn phản ánh sự củng cố về năng lực đào tạo, sự chuẩn hóa về chương trình đào tạo và sự trưởng thành về mặt chuyên môn của đội ngũ giảng viên nhà trường.
Từng bước tự chủ về nhân lực đào tạo
Nếu khóa Cử nhân NNTL đầu tiên tại Trường ĐH KTYD Đà Nẵng được giảng dạy gần như 100% bởi giảng viên quốc tế và giảng viên từ một số đơn vị khác trong nước, thì từ khóa thứ hai, sự phụ thuộc vào nguồn nhân lực bên ngoài đã giảm dần. Nhà trường đã từng bước tự chủ về nhân lực giảng dạy khi 04 giảng viên Bộ môn NNTL thuộc Khoa Phục hồi chức năng (PHCN) tốt nghiệp Thạc sĩ NNTL do Dự án hỗ trợ trở về công tác và đảm nhận phần lớn khối lượng giảng dạy. Chuyên gia quốc tế và trong nước chỉ hỗ trợ giảng dạy những nội dung lý thuyết khó và các kỳ lâm sàng chuyên sâu.
Trong quá trình triển khai khóa Cử nhân thứ hai, Dự án tiếp tục hỗ trợ nâng cao năng lực chuyên môn cho giảng viên thông qua tổ chức các buổi cố vấn chuyên môn, sinh hoạt khoa học với chuyên gia quốc tế, tài trợ tham dự các hội thảo chuyên ngành trong và ngoài nước cũng như tăng cường năng lực hướng dẫn lâm sàng.
“Thông qua các hoạt động này, giảng viên được tiếp cận với các chuẩn đào tạo hiện đại, cập nhật kiến thức chuyên môn liên tục. Sự đồng hành của MCNV, TFA và chương trình Tình nguyện viên Australia (AVP) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình hoàn thiện chương trình đào tạo.” ThS. Lương Thị Cẩm Vân – Trưởng Bộ môn NNTL, Khoa PHCN, Trường ĐH KTYD Đà Nẵng khẳng định.

ThS.Lương Thị Cẩm Vân (hàng đầu, thứ ba, từ phải) và các đồng nghiệp tại Hội thảo Can thiệp nuốt dựa trên bằng chứng.
Không chỉ nâng cao năng lực giảng dạy lý thuyết, Dự án còn tiếp sức giúp giảng viên trở nên chủ động, độc lập và tự tin hơn trong vai trò hướng dẫn thực hành, giám sát lâm sàng và tham gia vào quá trình rà soát, hoàn thiện chương trình đào tạo.
Kế thừa kinh nghiệm từ những khóa trước, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu nghề nghiệp của người học, chương trình đào tạo được điều chỉnh theo hướng thực tiễn hơn, tăng cường chú trọng vào thực hành lâm sàng, tạo điều kiện cho sinh viên tiếp xúc với các nhóm bệnh đa dạng hơn và tăng thời lượng thực tập tại các cơ sở y tế, giáo dục và phục hồi chức năng.
Công tác đánh giá năng lực lâm sàng cũng từng bước được chuẩn hóa và gắn với thực tiễn nghề nghiệp, để đánh giá chính xác hơn năng lực chuyên môn, kỹ năng giao tiếp và khả năng ra quyết định lâm sàng, phản ánh toàn diện hơn mức độ sẵn sàng hành nghề sau khi ra trường.
“Các đối tác luôn tôn trọng bối cảnh Việt Nam và cùng Nhà trường điều chỉnh nội dung để phù hợp với nhu cầu thực tế thay vì áp dụng máy móc mô hình nước ngoài. Cách tiếp cận này đã giúp chương trình vừa tiệm cận chuẩn quốc tế, vừa có tính ứng dụng cao trong hệ thống y tế và giáo dục của Việt Nam.” ThS.Cao Bích Thủy (phụ trách Phòng Quản lý Khoa học – Công nghệ & Hợp tác quốc tế, Trường ĐH KTYD Đà Nẵng) cho biết.

Sinh viên khóa 2 Cử nhân NNTL, Trường ĐH KTYD Đà Nẵng, thực hành lâm sàng tại Bệnh viện Chỉnh hình và PHCN Đà Nẵng dưới sự hướng dẫn của chuyên gia NNTL Australia – ThS.Louise Fearon Brown.
Thắp sáng tình yêu nghề ở thế hệ trẻ
Môi trường học tập ngày càng chất lượng đã giúp sinh viên phát huy tối đa sự năng động, tự chủ và tinh thần say mê học hỏi.
“Sinh viên khóa 2 có khả năng thích ứng và tinh thần học hỏi rất cao. Nhiều em có khả năng tự học, tìm kiếm và cập nhật bằng chứng khoa học mới. Năng lực này rất quan trọng đối với một ngành nghề phát triển nhanh như NNTL” – ThS. Lương Thị Cẩm Vân khẳng định.
“Điều tâm đắc nhất của tôi là cơ hội thực hành lâm sàng vô cùng phong phú và thực tế. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực hành thực tế rèn luyện cho tôi kỹ năng chuyên môn vững vàng và thắp sáng ngọn lửa nhiệt huyết với nghề”- Cử nhân (CN) Huỳnh Thanh Nga chia sẻ.
Đối với CN.Trần Vân Thư, trải nghiệm đồng hành cùng người bệnh đã bồi đắp những cảm nhận sâu sắc về ý nghĩa của nghề: “Được chứng kiến những thay đổi dù rất nhỏ ở người bệnh như một em bé nói được từ đầu tiên, một người lớn dần lấy lại khả năng giao tiếp giúp tôi cảm nhận rõ giá trị nhân văn mà NNTL mang lại, tiếp thêm động lực để theo đuổi chuyên ngành này!”
Đầu tư cho con người – nền tảng của phát triển bền vững
Theo PGS.TS. Lê Thị Thúy – Hiệu trưởng Trường ĐH KTYD Đà Nẵng, thông qua Dự án “Phát triển đào tạo NNTL tại Việt Nam”, Nhà trường đã được tiếp cận với các chương trình đào tạo tiên tiến, được học hỏi kinh nghiệm quốc tế về nhiều mặt như giảng dạy, đánh giá năng lực sinh viên, tổ chức thực hành lâm sàng và phát triển nghề nghiệp. Đặc biệt, đội ngũ giảng viên của Nhà trường được đào tạo, bồi dưỡng liên tục để nâng cao năng lực chuyên môn, tiến tới đảm nhận vai trò đào tạo độc lập trong tương lai.
“Trường ĐH KTYD Đà Nẵng kỳ vọng sẽ tiếp tục mở rộng quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng chương trình, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và tăng cường hợp tác quốc tế nhằm phát triển nguồn nhân lực NNTL chất lượng cao cho đất nước.” PGS.TS.Lê Thị Thúy nhấn mạnh.
Chia sẻ quan điểm này, bà Katie Walker-Smith, thành viên Ban giám đốc TFA, đối tác kỹ thuật Dự án khẳng định: “Tiếp cận theo hướng đào tạo giảng viên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đảm bảo rằng kiến thức và kỹ năng được duy trì bền vững tại Việt Nam thay vì phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài. Chúng tôi hy vọng chính các chuyên gia NNTL Việt Nam sẽ tiếp tục làm chủ và định hướng cho tương lai của ngành mình một cách phù hợp và thiết thực nhất với nhu cầu của cộng đồng.”
|
Dự án “Phát triển Đào tạo Ngôn ngữ trị liệu (NNTL) tại Việt Nam” do Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ thông qua tổ chức VietHealth, giai đoạn 2017 – 2022. Dự án vẫn đang được MCNV tiếp tục tài trợ và triển khai với hỗ trợ kỹ thuật từ đối tác là tổ chức TFA.
|
Chìa Khóa Của Sự Phát Triển Bền Vững
“Chìa khóa của sự phát triển bền vững” là tiêu đề bài phỏng vấn ThS.Phạm Dũng, Trưởng Văn phòng đại diện MCNV tại Việt Nam trên Báo và Phát thanh, Truyền hình Quảng Trị. 
Đọc toàn bộ bài viết tại: https://baoquangtri.vn/xa-hoi/202608/chia-khoa-cua-su-phat-trien-ben-vung-2f37269/
Phỏng vấn được thực hiện nhân dịp MCNV phối hợp với Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Trị khởi động Dự án “Thúc đẩy kinh tế bền vững nhằm cải thiện an ninh lương thực cho phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Trị” (dự án PRO-POOR) cuối tháng 7/2026.
Thông tin Dự án PRO-POOR:
|
Giao lưu, trao đổi với sinh viên ĐH Harvard
Chương trình do Viện Sức khỏe Toàn cầu Harvard phối hợp cùng Tổ chức HAIVN (The Partnership for Health Advancement in Vietnam) thực hiện. Đoàn gồm 8 sinh viên và học viên sau đại học thuộc nhiều chuyên ngành như Y tế công cộng, Kỹ thuật y sinh, Sinh học, Hóa học…
MCNV đánh giá cao sự hợp tác từ tổ chức HAIVN, đã kết nối cho buổi gặp gỡ ý nghĩa này. MCNV hy vọng những chia sẻ thực tế về quy trình vận hành và triển khai dự án sẽ mang lại nhiều góc nhìn hữu ích, đóng góp vào hành trang học tập và nghiên cứu của đoàn sinh viên tại ĐH Harvard./.
Khởi động dự án “Thúc đẩy sinh kế bền vững, cải thiện an ninh lương thực cho phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Trị”
Ngày 28/7/2026, MCNV phối hợp với Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Trị tổ chức Hội thảo khởi động dự án “Thúc đẩy sinh kế bền vững nhằm cải thiện an ninh lương thực cho phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Trị” (gọi tắt là Dự án PRO-POOR).
Ông Trần Ngọc Lân, Giám đốc Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Trị khai mạc Hội thảo. Ảnh: Mai Linh/Báo Quảng Trị
Dự án PRO-POOR được triển khai tại hai xã Hướng Phùng và Hướng Lập, những địa bàn miền núi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số (chủ yếu là người Bru – Vân Kiều) với tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo rất cao. Đặc biệt tại xã Hướng Lập, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 98% dân số, trong đó gần 50% thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo. Đời sống người dân còn đối mặt với nhiều khó khăn do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và hạn chế về các nguồn lực phát triển sinh kế.
Dự án có tổng kinh phí 18 tỷ đồng do MCNV tài trợ, sẽ được triển khai trong thời gian 36 tháng, tập trung hỗ trợ phụ nữ dân tộc thiểu số và gia đình phát triển sinh kế bền vững với các mô hình sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và phi nông nghiệp, tạo việc làm và nâng cao thu nhập, qua đó góp phần cải thiện an ninh lương thực. Các hỗ trợ của Dự án gồm cung cấp vốn, cây – con giống, trang bị kiến thức, kỹ thuật nuôi trồng, sản xuất, song song với việc nâng cao năng lực quản lý kinh doanh, kết nối trị trường nhằm đảm bảo ổn định tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Bên cạnh nội dung hỗ trợ sinh kế, Dự án cũng triển khai một số can thiệp nhằm tăng cường khả năng tiếp cận thực phầm và thực hành dinh dưỡng hợp lý cho phụ nữ và trẻ em vùng dự án, nhằm mục đích giảm tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi trên địa bàn 2 xã Dự án.
Các đại biểu tại Hội thảo khởi động dự án PRO-POOR. Ảnh: Phan Tân Lâm/MCNV
Dự án đã đặt ra các chỉ tiêu cụ thể, trong đó ít nhất 300 phụ nữ sẽ cải thiện thu nhập tăng thêm 20%, tăng điểm số đa dạng khẩu phần ăn của hộ gia đình thêm 25%, giảm 30% tỷ lệ hộ báo cáo thiếu lương thực trong mùa giáp hạt và nâng tỷ lệ trẻ em trường mầm non bán trú tiếp cận bữa ăn dinh dưỡng học đường lên 90%. Bên cạnh đó, khoảng 1.000 người, phần lớn là thành viên gia đình của nhóm hưởng lợi chính, cũng sẽ được thụ hưởng trực tiếp từ các hoạt động này.
Kể từ khi thành lập vào năm 1968, qua gần 6 thập kỷ hoạt động, MCNV đã thực hiện nhiều chương trình, dự án có ý nghĩa thiết thực về thúc đẩy sinh kế, cải thiện dinh dưỡng và phát triển bền vững tại các địa bàn khó khăn ở tỉnh Quảng Trị. Có thể kể tới một số Dự án gần đây như dự án “Thúc đẩy quan hệ đối tác bền vững giữa chủ rừng nhóm hộ gia đình và doanh nghiệp trong thực hiện quản lý rừng bền vững nhằm ứng phó biến đổi khí hậu” (do Liên minh Châu Âu tài trợ) và dự án “Phát triển cộng đồng dân tộc thiểu số” (do quỹ Hulza tài trợ) tại tỉnh Quảng Trị. Tiếp nối những thành công đó, dự án PRO-POOR một lần nữa khẳng định cam kết lâu dài của MCNV trong việc hỗ trợ các cộng đồng yếu thế, nâng cao năng lực tự chủ và sức chống chịu cho cộng đồng để hướng tới phát triển bền vững./.
Dự án Hòa nhập 1 nâng cao chất lượng sống cho hơn 18.200 người khuyết tật

Đại diện Đại sứ quán Hoa Kỳ và mẹ con chị Hồ Thị Tâm (dân tộc Bru – Vân Kiều, xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị). Chị Tâm là người khuyết tật được MCNV hỗ trợ phục hồi chức năng tại nhà và xe lăn trong khuôn khổ Dự án Hòa nhập 1. (Ảnh: MCNV)
Song song với hỗ trợ trực tiếp người khuyết tật, dự án tập trung vào các hoạt động nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ y tế thông qua đào tạo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Đã có tổng sốgần 900 cán bộ y tế được đào tạo, 27 cơ sở y tế được hỗ trợ xây dựng mô hình PHCN theo nhóm đa chuyên ngành.

Các đại biểu tại tọa đàm “Chất lượng cuộc sống của người khuyết tật, câu chuyện của hiện tại và tương lai”. (Ảnh: MCNV)
Các đại biểu đã chia sẻ những câu chuyện thay đổi tích cực mà Dự án mang lại cho bản thân, về sức khỏe, chức năng sinh hoạt và hòa nhập xã hội.

ThS.Phạm Dũng (ngoài cùng, phải) Trưởng Văn phòng đại diện MCNV Việt Nam nhận bằng khen của UBND tỉnh Quảng Trị về đóng góp cho hoạt động hỗ trợ người khuyết tật. (Ảnh: MCNV)
KHÉP LẠI MỘT HÀNH TRÌNH, MỞ RA HY VỌNG MỚI
Tháng 4/2026, Hợp phần Dự án Hòa nhập 1 do MCNV thực hiện đã chính thức khép lại. Những kết quả dự án đạt được không chỉ thể hiện thông qua những con số, mà còn ở những nụ cười và sự thay đổi tích cực trong cuộc sống của người khuyết tật.
MCNV trân trọng cảm ơn nhà tài trợ, các đối tác và cộng đồng đã đồng hành cùng chúng tôi để hoàn thành hành trình vô cùng ý nghĩa này.
Thông tin chung
Dự án Hòa Nhập 1 là một hợp phần của Dự án “Hỗ trợ cải thiện chất lượng sống của người khuyết tật tại các tỉnh bị phun rải nặng chất da cam”.
-
Thời gian triển khai: Từ năm 2022 đến năm 2026.
-
Địa bàn thực hiện: Tỉnh Quảng Nam, tỉnh Thừa Thiên – Huế và tỉnh Quảng Trị (nay thuộc địa bàn thành phố Đà Nẵng, thành phố Huế và tỉnh Quảng Trị).
-
Nhà tài trợ: Chính phủ Hoa Kỳ
-
Chủ Dự án: Trung tâm Hành động quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học và môi trường (NACCET).
-
Đơn vị quản lý: Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP).
Vai trò của MCNV
Ủy ban Y tế Hà Lan – Việt Nam (MCNV) là một trong các đơn vị thực hiện Dự án, chịu trách nhiệm triển khai 04 nhóm hoạt động chính sau:
1.Phát triển nguồn nhân lực phục hồi chức năng (PHCN) chất lượng cao
2. Hỗ trợ phát triển các cơ sở PHCN theo hướng tiếp cận đa chuyên ngành
3. Hỗ trợ trực tiếp cho người khuyết tật tại cộng đồng
4. Phát triển hệ thống và nâng cao nhận thức về PHCN
Dự án thúc đẩy sinh kế bền vững nhằm cải thiện an ninh lương thực cho phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số ở Quảng Trị
Mỗi buổi sáng, khi mặt trời còn chưa kịp ló qua những dãy núi trập trùng ở xã Hướng Lập, tỉnh Quảng Trị, chị Hồ Thị Hà đã thức dậy. Việc đầu tiên của chị là nhóm bếp, nấu cơm cho bốn đứa con nhỏ, rồi chở con đi học. Xong xuôi, chị lại lặng lẽ lên rẫy. Gia đình chị có 0,7 ha đất trồng sắn – tài sản lớn nhất và cũng là nguồn thu nhập chính của cả nhà.
Những năm thời tiết thuận lợi, sắn cho chị thu nhập khoảng 10 triệu đồng/năm. Số tiền ấy được chắt chiu để mua sách vở, quần áo cho con, mua gạo, thực phẩm và những vật dụng thiết yếu trong nhà. Nhưng không phải năm nào cũng “thuận trời”. Có những năm mưa lớn kéo dài suốt hai, ba tháng. Lượng mưa lớn khiến sắn chết hàng loạt. “Sắn năm nay mất mùa, bị chết hết… chỉ thu được 3, 4 triệu đồng thôi,” chị Hà kể, giọng đều đều như đã quen với những bấp bênh ấy.
![]() |
![]() |
| Cuộc sống của gia đình chị Hồ Thị Hà là những ngày tháng bấp bênh. | |
Ngoài sắn, gia đình chị còn trồng lúa nước. Ruộng lúa cách nhà gần mười cây số. Hai vụ lúa mỗi năm đủ để cả gia đình ăn trong năm, hiếm khi có dư để bán. Khi lên rẫy, chị thường tranh thủ hái măng, bắt ốc, bắt cá dưới suối, hoặc nhặt củi, hái rau rừng mang về. Cuộc sống của gia đình chị Hà – cũng như phần lớn người dân nơi đây – gắn chặt với nông nghiệp truyền thống, phụ thuộc nhiều vào thời tiết và thiên nhiên.
Thực tế đó phản ánh bức tranh chung của hai xã Hướng Lập và Hướng Phùng, nơi phần lớn dân số là người dân tộc thiểu số. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo vẫn còn rất cao, có thôn tỷ lệ hộ nghèo chiếm đến 47%. Các hộ nghèo thường phải đối mặt với thiếu thu nhập và thiếu hụt dinh dưỡng. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở hai xã vẫn ở mức đáng lo ngại, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể chất và trí tuệ của các em, cũng như tương lai của cả cộng đồng.
Mất an ninh lương thực là nỗi lo thường trực, nhất là vào mùa giáp hạt. Nguyên nhân không chỉ đến từ điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, mà còn từ sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả, thiếu hệ thống tưới tiêu, ít đa dạng cây trồng, hạn chế tiếp cận khuyến nông, đầu vào sản xuất và thị trường.
Biến đổi khí hậu càng khiến cuộc sống thêm mong manh. Mưa bão, hạn hán và dịch bệnh cây trồng xuất hiện với tần suất dày hơn, làm năng suất giảm sút và thu nhập càng thêm bấp bênh. Với phụ nữ dân tộc thiểu số, những khó khăn ấy chồng chất lên vai khi họ vừa tham gia sản xuất nông nghiệp, vừa là người chăm sóc gia đình và con cái.

Biến đổi khí hậu càng khiến gánh nặng sinh kế chồng chất lên vai người phụ nữ.
Xuất phát từ những thách thức đó, Dự án “Thúc đẩy sinh kế bền vững nhằm cải thiện an ninh lương thực cho phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số” (viết tắt là Dự án PRO-POOR) giai đoạn 2026–2028 được hình thành như một lời cam kết của MCNV để đồng hành cùng phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi tỉnh Quảng Trị. Dự án không “trao tặng” những giải pháp ngắn hạn, mà hướng tới tạo cơ hội để người dân – đặc biệt là phụ nữ nghèo – nâng cao năng lực sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và cải thiện chất lượng cuộc sống một cách bền vững.
Một trong những trọng tâm của dự án là nâng cao kiến thức và kỹ năng cho phụ nữ nghèo thông qua việc tổ chức sản xuất theo tổ, nhóm hoặc tại hộ gia đình. Phụ nữ không chỉ được tập huấn kỹ thuật canh tác, chăn nuôi cải tiến, mà còn được cùng nhau lựa chọn những mô hình phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu và năng lực của gia đình mình. Từ trồng trọt, chăn nuôi đến các mô hình phi nông nghiệp, dự án khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ, tận dụng tối đa nguồn lực sẵn có để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Song song với đó, PRO-POOR thúc đẩy các sinh kế không gây mất rừng thông qua khai thác và kinh doanh bền vững lâm sản ngoài gỗ như măng, tre, song mây, hạt trẩu, bồ kết, mật ong hay cây dược liệu. Những sản vật quen thuộc với người dân địa phương, nếu được tổ chức sản xuất và liên kết thị trường hiệu quả, hoàn toàn có thể mang lại nguồn thu nhập ổn định hơn. Các tổ hợp tác phụ nữ sẽ được hỗ trợ để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, từ thu gom, sơ chế đến kết nối với doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội và môi trường.
Bên cạnh đó, dự án cũng chú trọng đến cải thiện dinh dưỡng cho phụ nữ và trẻ em. Thông qua việc hỗ trợ sản xuất và phân phối thực phẩm an toàn tại địa phương, kết hợp truyền thông thay đổi hành vi dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai và các bà mẹ có con nhỏ, PRO-POOR hướng tới nâng cao sức khỏe cộng đồng từ gốc rễ. Dự án cũng sẽ phối hợp với trường mầm non và bếp ăn bán trú để cải thiện chất lượng bữa ăn học đường, giúp trẻ em có một khởi đầu tốt hơn trong những năm đầu đời.
Trong giai đoạn 2026–2028, dự kiến ít nhất 300 phụ nữ nghèo và các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn sẽ trực tiếp được cải thiện việc làm và thu nhập. Khoảng 1.000 người – là thành viên gia đình của họ – cũng sẽ hưởng lợi từ những thay đổi tích cực này. Với chị Hồ Thị Hà và nhiều phụ nữ khác ở Hướng Lập và Hướng Phùng, đó không chỉ là câu chuyện về thu nhập, mà còn là cơ hội để họ tự tin hơn, chủ động hơn và vững vàng hơn trước những biến động của cuộc sống.
Để những thay đổi ấy trở thành hiện thực, MCNV sẽ đồng hành cùng chính quyền địa phương, các đối tác, các nhà tài trợ và cộng đồng trong hành trình 3 năm tới, cùng chung tay giúp phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số ở Hướng Lập và Hướng Phùng thoát khỏi vòng luẩn quẩn của nghèo khó và mất an ninh lương thực, hướng tới một tương lai đủ đầy và tự chủ hơn.
Thông tin Dự án: Thúc đẩy sinh kế bền vững nhằm cải thiện an ninh lương thực cho phụ nữ nghèo dân tộc thiểu số ở tỉnh Quảng Trị (Dự án PRO-POOR)
|














