15 nhóm trưởng và thành viên dự kiến của dự án Tín dụng tiết kiệm huyện Bình Đại (tỉnh Bến Tre) đã được trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết về quản lý, điều hành và sinh hoạt nhóm thông qua lớp tập huấn diễn ra từ ngày 17-19/2.
Lớp tập huấn nhằm tạo điều kiện để các nhóm tiết kiệm và vay vốn được tiếp cận với những kiến thức cần thiết về lĩnh vực vốn vay, tiếp cận và quản lý tốt nguồn vốn, sử dụng nguồn vốn vay hiệu quả, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế tại địa phương.
Trong 03 ngày diễn ra tập huấn, các cán bộ dự án đã giúp các học viên nắm bắt được một số vấn đề chung về tín dụng, nhóm tín dụng; phát triển, quản lý và điều hành nhóm vay vốn, giới thiệu về hoạt động của dự án (mục đích hoạt động, đối tượng khách hàng, chính sách vay vốn, huy động tiết kiệm bắt buộc…); hướng dẫn về cách lập hồ sơ, lưu trữ hồ sơ và một số kỹ năng tại buổi đi thực tế trong quá trình vận hành và quản lý nguồn vốn của Dự án .
Dưới sự hướng dẫn của các cán bộ dự án tại địa bàn, 15 học viên đã có được những hiểu biết nền tảng về tín dụng, nhóm tín dụng cũng như việc phát triển và quản lý và điều hành nhóm vay vốn
Bên cạnh đó, các nhóm trưởng tham gia cũng được cán bộ chuyên trách giải đáp một số vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện công tác vay vốn tại cơ sở, cách nắm bắt thông tin vay vốn…
Với những kiến thức, kỹ năng được trang bị, sau khi hoàn thành lớp tập huấn, các học viên đã có thêm sự tự tin, sẵn sàng trong tiếp cận quản lý nguồn vốn của dự án, để giúp cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ khó khăn có điều kiện phát triển kinh tế tại địa phương.
“Thông qua lớp tập huấn, Ban quản lý mong muốn mỗi học viên sau này sẽ là một cộng tác viên đắc lực cho Ban quản lý dự án Tín dụng tiết kiệm huyện Bình Đại trong công tác vận hành và quản lý nguồn vốn thời gian tới”, bà Võ Thị Bé Hai – Phó Trưởng ban quản lý Dự án chia sẻ.
Dự án Tín dụng tiết kiệm huyện Bình Đại được MCNV và các nhà tài trợ triển khai từ năm 2009.
Đến nay dự án đã triển khai tại 11 xã và thị trấn, cung cấp nguồn tín dụng và các hỗ trợ hòa nhập kinh tế xã hội cho trên 5.000 phụ nữ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn tại địa phương. Dự án hiện nay đã tự chủ về mặt tài chính và hoạt động theo cấp phép của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Bến Tre.
Trên cơ sở tín dụng vi mô, dự án không ngừng cung cấp các dịch vụ và hỗ trợ cho người dân trong việc phát triển kinh tế gia đình, tăng cường hiểu biết và học hỏi, phòng tránh tác hại hạn mặn và hỗ trợ địa phương xây dựng Nông thôn mới.
Ngày Quốc tế về Người khuyết tật (ngày 03/12) do Chương trình Thế giới Hành động về Người khuyết tật khởi xướng và được Đại Hội đồng Liên hiệp quốc thông qua năm 1992. Ngày này được ra đời nhằm mục đích thúc đẩy sự hiểu biết về vấn đề khuyết tật và huy động hỗ trợ cho nhân phẩm, quyền và phúc lợi của người khuyết tật, nâng cao nhận thức của các chính phủ, các tổ chức và cá nhân trong mọi cộng đồng về việc lồng ghép và tích hợp vần đề người khuyết tật trong mọi khía cạnh của đời sống chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa. Một trọng tâm chính của lễ kỷ niệm ngày Quốc tế về Người khuyết tật hằng năm là vận động chính sách để ban hành các luật lệ và chuẩn mực quốc tế và quốc gia liên quan đến người khuyết tật và quyền của người khuyết tật được tham gia bình đẳng vào mọi lĩnh vực trong phát triển xã hội. Mỗi năm Liên hiệp quốc sẽ công bố một chủ đề khác nhau cho ngày này.
Chủ đề của Ngày quốc tế
Người khuyết tật năm 2019 là“Thúc đẩy sự tham gia và lãnh đạo của người khuyết tật:
hành động vì Chương trình nghị sự phát triển đến năm 2030”. Chủ đề năm nay chú trọng vào tăng cường vị thế
của người khuyết tật vì sự phát triển hòa nhập, công bằng và bền vững như đã dự
kiến trong Chương trình nghị sự về Sự phát triển Bền vững đến năm 2030 trong đó
cam kết “không để ai bị bỏ lại phía sau” và nhận thức về khuyết tật như là một
chủ đề xuyên suốt trong quá trình thực hiện 17 mục tiêu phát triển bền vững.
Hằng năm, MCNV phối hợp với các đối tác để tổ
chức các hoạt động kỷ niệm ngày 3/12 với tinh thần ủng hộ và hỗ trợ tối đa các
hoạt động thức đẩy quyền của người khuyết tật, thể hiện sự tôn trọng nhân phẩm
của người khuyết tật, tôn vinh đóng góp của người khuyết tật vào quá trình phát
triển của xã hội. /.
Trên thế giới, từ hàng trăm năm nay, hoạt động trị liệu (HĐTL) đã là một phần không thể thiếu trong phục hồi chức năng, giúp bệnh nhân tái hòa nhập cuộc sống trong cộng đồng và giảm thiểu tỉ lệ tàn tật.
Tuy nhiên, đến năm 2015, Việt Nam vẫn chưa có đào tạo HĐTL chuyên nghiệp. HĐTL mới chỉ có ở một số ít bệnh viện lớn, nhờ vào sự hỗ trợ của các sinh viên hoặc kỹ thuật viên nước ngoài. Bởi vậy, kết thúc quá trình điều trị tại bệnh viện, việc duy trì HĐTL cho bệnh nhân tại nhà còn rất hạn chế. Trong khi đó, đối với người khuyết tật, người sau tai nạn, tai biến…chỉ riêng những sinh hoạt thường nhật như vệ sinh cá nhân, ăn uống, di chuyển…đã là những thách thức không nhỏ.
Những hạt giống đầu tiên
Trước nhu cầu cấp thiết về HĐTL tại Việt Nam, năm 2015, Ủy ban Y tế Hà Lan – Việt Nam (MCNV) đã khởi xướng dự án Phát triển đào tạo HĐTL chuyên nghiệp, với sự tài trợ của Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), thông qua tổ chức Humanity & Inclusion (HI).
Năm 2016, cùng 2 giảng viên Đại học Y Dược TP.HCM, các giảng viên của Đại học Kỹ thuật Y tế (ĐH KTYT) Hải Dương Nguyễn Khắc Tuấn, Nguyễn Thị Tuyết Ngân và Vũ Thị Loan đã trở thành những “hạt giống đầu tiên” trên con đường “ươm mầm” ngành HĐTL tại Việt Nam. Tháng 8 năm 2019, họ đã hoàn thành một phần lộ trình của mình, sau khi tốt nghiệp Cử nhân về HĐTL tại ĐH Tổng hợp Manipal (Ấn Độ), ngôi trường có bề dày hơn 50 năm kinh nghiệm trong đào tạo chuyên ngành này.
Trước khi quay trở lại ĐH Tổng hợp Manipal để hoàn thành chương trình Thạc sĩ, 3 giảng viên đang thực tập tại ĐH KTYT Hải Dương dưới sự hướng dẫn của chuyên gia HĐTL đến từ Hà Lan.
Trong sự kiện kỷ niệm Ngày HĐTL thế giới diễn ra trên giảng đường ĐH KTYT Hải Dương vào cuối tháng 10, các giảng viên đã góp phần khơi dậy niềm yêu thích, sự say mê với ngành HĐTL cho hàng trăm sinh viên, từ khái niệm cơ bản cho đến những khía cạnh chuyên sâu như can thiệp HĐTL trong lĩnh vực phục hồi chức năng, các bệnh tâm thần, bệnh lý nhi khoa, mô hình can thiệp nhóm…
Một giờ thực hành về HĐTL tại ĐH TH Manipal, Ấn Độ. Ảnh: NVCC
Những kiến thức được minh họa bằng những ví dụ từ kinh nghiệm thực tiễn của ba giảng viên trẻ trong thời gian học tập tại Ấn Độ đã đem đến cho sinh viên góc nhìn vừa mới mẻ vừa gần gũi về HĐTL. Điển hình như cách phát hiện mối rủi ro tại nhà, đảm bảo an toàn cho người bệnh; chỉnh sửa, thiết kế lại những đồ dùng hàng ngày như chiếc thìa để bệnh nhân có thể tự ăn mà không cần trợ giúp từ người nhà…
Phần thuyết trình đầy tự tin, lôi cuốn kèm theo những giải đáp thắc mắc của sinh viên một cách cụ thể đã cho thấy tâm huyết, sự đào sâu, ý thức tìm tòi trong học tập và nghiên cứu của các giảng viên trên bước đường đến với HĐTL.
Hành trình “nảy mầm”
Chị Nguyễn Thị Tuyết Ngân (thứ 2, từ trái sang) và các giảng viên, bạn học tại Ấn Độ. Ảnh: NVCC
Để có được sự tự tin, nền tảng kiến thức vững vàng về HĐTL như ngày hôm nay, ba giảng viên đã phải vượt qua không ít thử thách, đó là những bỡ ngỡ khi lần đầu sống xa nhà trong thời gian dài, việc làm quen với ngành học mới mẻ bằng ngoại ngữ, rào cản về ngôn ngữ, văn hóa ở nước ngoài.
Bên cạnh lòng quyết tâm, ý chí vươn lên mạnh mẽ và bền bỉ của bản thân thì sự thông cảm, hỗ trợ tận tâm của các giảng viên, bạn bè Ấn Độ đã giúp họ vượt qua những ngày “vạn sự khởi đầu nan” ấy.
“Trong những tiết học, các thầy cô giáo thường cố gắng nói chậm hơn, để sinh viên quốc tế như chúng tôi bắt kịp bài giảng. Bất kể khi nào chúng tôi có câu hỏi, các thầy cô đều nhiệt tình giải đáp. Biết chúng tôi mới nhập học còn nhiều bỡ ngỡ, các thầy cô còn lồng ghép những câu chuyện vui vào giờ giảng, tạo bầu không khí thoải mái, thư giãn. Trong những bài tập như viết bệnh án, các bạn học, thầy cô cũng tỉ mỉ giúp sửa chữa những phần làm chưa tốt, giúp sinh viên tiến bộ cả về mặt ngôn ngữ lẫn kiến thức chuyên ngành”, giảng viên Nguyễn Thị Tuyết Ngân xúc động nhớ lại.
Không chỉ quan tâm tới sinh viên trong những giờ giảng trên lớp, các giảng viên ĐH Tổng hợp Manipal còn tận tình chăm lo tới đời sống của những bạn trẻ đến từ Việt Nam.
“Những ngày đầu tiên khi chúng tôi mới sang, các thầy cô đã không ngại dành nguyên một ngày để lặn lội dẫn chúng tôi đi tìm nhà trọ phù hợp”, giảng viên Nguyễn Khắc Tuấn kể.
(Từ trái qua) Giảng viên Nguyễn Khắc Tuấn, Vũ Thị Loan và các bạn học. Ảnh: NVCC
Không chỉ nhận được sự hỗ trợ của thầy cô, bè bạn Ấn Độ, hành trình 3 năm học tập của ba giảng viên trẻ còn được đồng hành bởi MCNV, đơn vị triển khai dự án.
“Chúng tôi luôn nhận được sự tiếp sức của các cán bộ MCNV, những người anh, người chị thân thương, đã cho chúng tôi thêm niềm tin để vững bước vượt qua nhiều thử thách. Không chỉ hỗ trợ, tư vấn về những hành trang du học cần thiết, các anh chị còn là chỗ dựa tinh thần từ xa cho chúng tôi, chia sẻ những khó khăn trong học tập lẫn cuộc sống”, giảng viên Nguyễn Thị Tuyết Ngân chia sẻ.
“Thời gian đầu mới sang Ấn Độ, tiếng Anh của tôi còn hạn chế, ảnh hưởng tới cả việc học tập lẫn hòa nhập với trường lớp. Nhận thấy được điều này, các cán bộ của MCNV đã sắp xếp để tôi tham gia thêm một khóa tiếng Anh nữa, củng cố nền tảng ngôn ngữ”, giảng viên Vũ Thị Loan kể.
Sau 3 năm học trở về, chị Loan đã có thể tự tin với khả năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh của mình. Trong sự kiện kỷ niệm Ngày HĐTL thế giới, chị đã tự tin đứng trên sân khấu làm phiên dịch cho chuyên gia HĐTL người Hà Lan Anne Kuijs trong phần chia sẻ của bà về HĐTL trong Nhi khoa, với không ít những thuật ngữ khó.
Con đường phía trước
Sau thời gian thực tập tại ĐH KTYT Hải Dương, ba giảng viên sẽ trở lại Ấn Độ để hoàn thành chương trình Thạc sĩ. 3 năm học tập tại nước bạn đã truyền cho họ không chỉ kiến thức, mà còn là nguồn cảm hứng, sự say mê với ngành HĐTL.
“Ngành HĐTL thực sự rất thú vị và hữu ích. Trước khi du học, những hiểu biết của mình còn rất mơ hồ, vẫn thường có những nhầm lẫn giữa Vật lý trị liệu và Hoạt động trị liệu. Còn giờ đây, mình đã có những kiến thức, kỹ năng khá vững vàng về HĐTL. Mình đặc biệt tâm đắc với sự kết hợp của HĐTL cùng Ngữ âm trị liệu và Vật lý trị liệu trong phục hồi chức năng, và tôn chỉ “lấy người bệnh làm trung tâm”
“Sự phối kết hợp liên chuyên ngành theo chiều sâu sẽ đem lại hiệu quả điều trị tối đa cho người bệnh, đây cũng chính là kim chỉ nam của những nhà hoạt động trị liệu”, giảng viên Nguyễn Thị Tuyết Ngân cho biết.
Còn với giảng viên Nguyễn Khắc Tuấn, anh đang có những nhìn nhận rất lạc quan về phát triển HĐTL tại Việt Nam:
“Tuy thời gian tham gia giảng dạy của mình về HĐTL ở Trường chưa nhiều, nhưng mình nhận thấy hầu hết sinh viên đều rất hứng thú với HĐTL. Thực chất HĐTL không phải là những gì cao xa, đòi hỏi máy móc, kỹ thuật cầu kỳ. HĐTL luôn lấy người bệnh là trung tâm, quan tâm tới những nhu cầu, mong muốn của người bệnh, qua đó hướng họ tham gia vào những công việc có ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày, để cải thiện, duy trì và nâng cao sức khỏe, tạo ra sự độc lập một cách tối đa.”
Anh Nguyễn Khắc Tuấn cho biết, hiện tại, các giảng viên như anh đang cùng nhà trường xây dựng phòng thực hành HĐTL trong khoa Phục hồi chức năng của bệnh viện trường Đại học KTYT Hải Dương.
Nói về dự định sau khi hoàn thành chương trình Thạc sĩ trở về, anh cho biết:
“Mình hi vọng sẽ giúp Trường xây dựng được một hệ thống đào tạo HĐTL một cách cơ bản, đồng thời tăng cường hợp tác với các bệnh viện, trường đại học trong nước và quốc tế để tạo nên một mạng lưới HĐTL rộng khắp và bền vững tại Việt Nam.”
Theo “Báo cáo toàn cầu về tình hình khuyết tật” của Tổ chức Y tế thế giới vào năm 2011, có khoảng trên 60% người khuyết tật tại các quốc gia đang phát triển có nhu cầu phục hồi chức năng. Tại Việt Nam, con số này tương đương 4 triệu người.Tại Việt Nam, chỉ tính riêng nhóm đối tượng bị tổn thương tủy sống cần tới sự giúp đỡ đặc biệt của HĐTL tại hai bệnh viện lớn nhất toàn quốc là Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) và Chợ Rẫy (TP.HCM), trung bình mỗi năm đã có tới 2.000 trường hợp.Bên cạnh đào tạo nhân lực, MCNV cũng là hạt nhân tích cực góp phần phát triển mạng lưới HĐTL, nâng cao nhận thức của xã hội về nghề HĐTL và tham gia xây dựng các chính sách liên quan tới HĐTL tại Việt Nam.
Trên thế giới, từ hàng trăm năm nay, hoạt động trị liệu (HĐTL) đã là một phần không thể thiếu trong phục hồi chức năng, giúp bệnh nhân tái hòa nhập cuộc sống trong cộng đồng và giảm thiểu tỉ lệ tàn tật.
Tuy nhiên, đến năm 2015, Việt Nam vẫn chưa có đào tạo HĐTL chuyên nghiệp. HĐTL mới chỉ có ở một số ít bệnh viện lớn, nhờ vào sự hỗ trợ của các sinh viên hoặc kỹ thuật viên nước ngoài. Bởi vậy, kết thúc quá trình điều trị tại bệnh viện, việc duy trì HĐTL cho bệnh nhân tại nhà còn rất hạn chế. Trong khi đó, đối với người khuyết tật, người sau tai nạn, tai biến…chỉ riêng những sinh hoạt thường nhật như vệ sinh cá nhân, ăn uống, di chuyển…đã là những thách thức không nhỏ.
Những hạt giống đầu tiên
Trước nhu cầu cấp thiết về HĐTL tại Việt Nam, năm 2015, Ủy ban Y tế Hà Lan – Việt Nam (MCNV) đã khởi xướng dự án Phát triển đào tạo HĐTL chuyên nghiệp, với sự tài trợ của Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), thông qua tổ chức Humanity & Inclusion (HI).
Năm 2016, cùng 2 giảng viên Đại học Y Dược TP.HCM, các giảng viên của Đại học Kỹ thuật Y tế (ĐH KTYT) Hải Dương Nguyễn Khắc Tuấn, Nguyễn Thị Tuyết Ngân và Vũ Thị Loan đã trở thành những “hạt giống đầu tiên” trên con đường “ươm mầm” ngành HĐTL tại Việt Nam. Tháng 8 năm 2019, họ đã hoàn thành một phần lộ trình của mình, sau khi tốt nghiệp Cử nhân về HĐTL tại ĐH Tổng hợp Manipal (Ấn Độ), ngôi trường có bề dày hơn 50 năm kinh nghiệm trong đào tạo chuyên ngành này.
Trước khi quay trở lại ĐH Tổng hợp Manipal để hoàn thành chương trình Thạc sĩ, 3 giảng viên đang thực tập tại ĐH KTYT Hải Dương dưới sự hướng dẫn của chuyên gia HĐTL đến từ Hà Lan.
Trong sự kiện kỷ niệm Ngày HĐTL thế giới diễn ra trên giảng đường ĐH KTYT Hải Dương vào cuối tháng 10, các giảng viên đã góp phần khơi dậy niềm yêu thích, sự say mê với ngành HĐTL cho hàng trăm sinh viên, từ khái niệm cơ bản cho đến những khía cạnh chuyên sâu như can thiệp HĐTL trong lĩnh vực phục hồi chức năng, các bệnh tâm thần, bệnh lý nhi khoa, mô hình can thiệp nhóm…
Một giờ thực hành về HĐTL tại ĐH TH Manipal, Ấn Độ. Ảnh: NVCC
Những kiến thức được minh họa bằng những ví dụ từ kinh nghiệm thực tiễn của ba giảng viên trẻ trong thời gian học tập tại Ấn Độ đã đem đến cho sinh viên góc nhìn vừa mới mẻ vừa gần gũi về HĐTL. Điển hình như cách phát hiện mối rủi ro tại nhà, đảm bảo an toàn cho người bệnh; chỉnh sửa, thiết kế lại những đồ dùng hàng ngày như chiếc thìa để bệnh nhân có thể tự ăn mà không cần trợ giúp từ người nhà…
Phần thuyết trình đầy tự tin, lôi cuốn kèm theo những giải đáp thắc mắc của sinh viên một cách cụ thể đã cho thấy tâm huyết, sự đào sâu, ý thức tìm tòi trong học tập và nghiên cứu của các giảng viên trên bước đường đến với HĐTL.
Hành trình “nảy mầm”
Chị Nguyễn Thị Tuyết Ngân (thứ 2, từ trái sang) và các giảng viên, bạn học tại Ấn Độ. Ảnh: NVCC
Để có được sự tự tin, nền tảng kiến thức vững vàng về HĐTL như ngày hôm nay, ba giảng viên đã phải vượt qua không ít thử thách, đó là những bỡ ngỡ khi lần đầu sống xa nhà trong thời gian dài, việc làm quen với ngành học mới mẻ bằng ngoại ngữ, rào cản về ngôn ngữ, văn hóa ở nước ngoài.
Bên cạnh lòng quyết tâm, ý chí vươn lên mạnh mẽ và bền bỉ của bản thân thì sự thông cảm, hỗ trợ tận tâm của các giảng viên, bạn bè Ấn Độ đã giúp họ vượt qua những ngày “vạn sự khởi đầu nan” ấy.
“Trong những tiết học, các thầy cô giáo thường cố gắng nói chậm hơn, để sinh viên quốc tế như chúng tôi bắt kịp bài giảng. Bất kể khi nào chúng tôi có câu hỏi, các thầy cô đều nhiệt tình giải đáp. Biết chúng tôi mới nhập học còn nhiều bỡ ngỡ, các thầy cô còn lồng ghép những câu chuyện vui vào giờ giảng, tạo bầu không khí thoải mái, thư giãn. Trong những bài tập như viết bệnh án, các bạn học, thầy cô cũng tỉ mỉ giúp sửa chữa những phần làm chưa tốt, giúp sinh viên tiến bộ cả về mặt ngôn ngữ lẫn kiến thức chuyên ngành”, giảng viên Nguyễn Thị Tuyết Ngân xúc động nhớ lại.
Không chỉ quan tâm tới sinh viên trong những giờ giảng trên lớp, các giảng viên ĐH Tổng hợp Manipal còn tận tình chăm lo tới đời sống của những bạn trẻ đến từ Việt Nam.
“Những ngày đầu tiên khi chúng tôi mới sang, các thầy cô đã không ngại dành nguyên một ngày để lặn lội dẫn chúng tôi đi tìm nhà trọ phù hợp”, giảng viên Nguyễn Khắc Tuấn kể.
(Từ trái qua) Giảng viên Nguyễn Khắc Tuấn, Vũ Thị Loan và các bạn học. Ảnh: NVCC
Không chỉ nhận được sự hỗ trợ của thầy cô, bè bạn Ấn Độ, hành trình 3 năm học tập của ba giảng viên trẻ còn được đồng hành bởi MCNV, đơn vị triển khai dự án.
“Chúng tôi luôn nhận được sự tiếp sức của các cán bộ MCNV, những người anh, người chị thân thương, đã cho chúng tôi thêm niềm tin để vững bước vượt qua nhiều thử thách. Không chỉ hỗ trợ, tư vấn về những hành trang du học cần thiết, các anh chị còn là chỗ dựa tinh thần từ xa cho chúng tôi, chia sẻ những khó khăn trong học tập lẫn cuộc sống”, giảng viên Nguyễn Thị Tuyết Ngân chia sẻ.
“Thời gian đầu mới sang Ấn Độ, tiếng Anh của tôi còn hạn chế, ảnh hưởng tới cả việc học tập lẫn hòa nhập với trường lớp. Nhận thấy được điều này, các cán bộ của MCNV đã sắp xếp để tôi tham gia thêm một khóa tiếng Anh nữa, củng cố nền tảng ngôn ngữ”, giảng viên Vũ Thị Loan kể.
Sau 3 năm học trở về, chị Loan đã có thể tự tin với khả năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh của mình. Trong sự kiện kỷ niệm Ngày HĐTL thế giới, chị đã tự tin đứng trên sân khấu làm phiên dịch cho chuyên gia HĐTL người Hà Lan Anne Kuijs trong phần chia sẻ của bà về HĐTL trong Nhi khoa, với không ít những thuật ngữ khó.
Con đường phía trước
Sau thời gian thực tập tại ĐH KTYT Hải Dương, ba giảng viên sẽ trở lại Ấn Độ để hoàn thành chương trình Thạc sĩ. 3 năm học tập tại nước bạn đã truyền cho họ không chỉ kiến thức, mà còn là nguồn cảm hứng, sự say mê với ngành HĐTL.
“Ngành HĐTL thực sự rất thú vị và hữu ích. Trước khi du học, những hiểu biết của mình còn rất mơ hồ, vẫn thường có những nhầm lẫn giữa Vật lý trị liệu và Hoạt động trị liệu. Còn giờ đây, mình đã có những kiến thức, kỹ năng khá vững vàng về HĐTL. Mình đặc biệt tâm đắc với sự kết hợp của HĐTL cùng Ngữ âm trị liệu và Vật lý trị liệu trong phục hồi chức năng, và tôn chỉ “lấy người bệnh làm trung tâm”
“Sự phối kết hợp liên chuyên ngành theo chiều sâu sẽ đem lại hiệu quả điều trị tối đa cho người bệnh, đây cũng chính là kim chỉ nam của những nhà hoạt động trị liệu”, giảng viên Nguyễn Thị Tuyết Ngân cho biết.
Còn với giảng viên Nguyễn Khắc Tuấn, anh đang có những nhìn nhận rất lạc quan về phát triển HĐTL tại Việt Nam:
“Tuy thời gian tham gia giảng dạy của mình về HĐTL ở Trường chưa nhiều, nhưng mình nhận thấy hầu hết sinh viên đều rất hứng thú với HĐTL. Thực chất HĐTL không phải là những gì cao xa, đòi hỏi máy móc, kỹ thuật cầu kỳ. HĐTL luôn lấy người bệnh là trung tâm, quan tâm tới những nhu cầu, mong muốn của người bệnh, qua đó hướng họ tham gia vào những công việc có ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày, để cải thiện, duy trì và nâng cao sức khỏe, tạo ra sự độc lập một cách tối đa.”
Anh Nguyễn Khắc Tuấn cho biết, hiện tại, các giảng viên như anh đang cùng nhà trường xây dựng phòng thực hành HĐTL trong khoa Phục hồi chức năng của bệnh viện trường Đại học KTYT Hải Dương.
Nói về dự định sau khi hoàn thành chương trình Thạc sĩ trở về, anh cho biết:
“Mình hi vọng sẽ giúp Trường xây dựng được một hệ thống đào tạo HĐTL một cách cơ bản, đồng thời tăng cường hợp tác với các bệnh viện, trường đại học trong nước và quốc tế để tạo nên một mạng lưới HĐTL rộng khắp và bền vững tại Việt Nam.”
Theo “Báo cáo toàn cầu về tình hình khuyết tật” của Tổ chức Y tế thế giới vào năm 2011, có khoảng trên 60% người khuyết tật tại các quốc gia đang phát triển có nhu cầu phục hồi chức năng. Tại Việt Nam, con số này tương đương 4 triệu người.Tại Việt Nam, chỉ tính riêng nhóm đối tượng bị tổn thương tủy sống cần tới sự giúp đỡ đặc biệt của HĐTL tại hai bệnh viện lớn nhất toàn quốc là Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) và Chợ Rẫy (TP.HCM), trung bình mỗi năm đã có tới 2.000 trường hợp.Bên cạnh đào tạo nhân lực, MCNV cũng là hạt nhân tích cực góp phần phát triển mạng lưới HĐTL, nâng cao nhận thức của xã hội về nghề HĐTL và tham gia xây dựng các chính sách liên quan tới HĐTL tại Việt Nam.
Hôm nay, ngày 1/11/2019, tại trụ sở Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam (VUFO), VUFO đã phối hợp với Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Phú Yên tổ chức thành công “Hội nghị vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài – tỉnh Phú Yên”.
Đến dự Hội nghị có ông Bạch Ngọc Chiến – Phó chủ tịch VUFO, ông Phan Đình Phùng – Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên, cùng đại diện các ban ngành và hơn 50 tổ chức trong nước và quốc tế có mối quan hệ hợp tác với tỉnh Phú Yên như Phái đoàn Liên minh Châu Âu EU, Đại sứ quán Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), các tổ chức Oxfam, Marie Stopes International, Đông Tây Hội Ngộ, Action Aid, MCNV…
Hội nghị đã trình bày báo cáo về công tác vận động viện trợ nước ngoại tại tỉnh Phú Yên trong thời gian qua, đồng thời đưa ra định hướng và kế hoạch từ nay đến năm 2021.
MCNV vinh dự là một trong sáu tổ chức được UBND tỉnh Phú Yên vinh danh và trao tặng bằng khen vì những đóng góp tích cực cho sự phát triển của tỉnh Phú Yên.
Tại hội nghị, ông Phạm Dũng – Giám đốc quốc gia MCNV Việt Nam và ông Nguyễn Hữu Từ – Chủ tịch UBND Huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên đã ký kết Biên bản ghi nhớ về “Hợp tác vận động tài trợ và thực hiện dự án tại Huyện Đồng Xuân, giai đoạn 2021 – 2022”. Dự án tập trung mở rộng mô hình tiếp cận dinh dưỡng – nông nghiệp để giải quyết vấn đề suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại các xã, huyện miền núi trên địa bàn huyện Đồng Xuân của tỉnh Phú Yên.
Ông Phạm Dũng – Giám đốc quốc gia MCNV Việt Nam và ông Nguyễn Hữu Từ – Chủ tịch UBND Huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên đã ký kết Biên bản ghi nhớ.
Ngày 1/12/2018, MCNV đã phối hợp với ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương tổ chức hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm đào tạo HĐTL và kế hoach phân công công tác cho các cử nhân HĐTL tại các cơ sở bệnh viện và TT PHCN” với sự tham gia của đại diện Phòng Phục hồi chức năng, Cục Quản lý khám chữa bệnh – Bộ Y tế, các bệnh viện và trung tâm PHCN của gần 12 tỉnh, thành ở miền Bắc, lãnh đao và giảng viên ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương, ĐH Y Dược Tp. HCM, ĐH Tổng hợp Manipal (Ấn Độ), các tình nguyện viên HĐTL quốc tế tham gia hướng dẫn lâm sàng và sinh viên đang theo học lớp cử nhân HĐTL tại trường ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương. Hội thảo được tổ chức nhằm đánh giá và rút kinh nghiệm trong công tác tổ chức khoá đào tạo Cử nhân kỹ thuật PHCN (chuyên ngành HĐTL) được triển khai tại hai trường ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương và ĐH Y Dược Tp. HCM trong thời gian 2 năm 2017 và 2018. Đồng thời, Hội thảo cũng là cơ hội để MCNV, Trường ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương trao đổi với lãnh đạo các cơ sở PHCN có sinh viên đang theo học về việc phối hợp trong việc phân công nhiệm vụ và tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên có môi trường thực hành nghề HĐTL sau khi về đơn vị công tác.
Tính đến thời điểm tháng 11/2018, Trường ĐH Tổng hợp Manipal, Ấn Độ, đã cử tổng cộng 6 lượt giảng viên sang ĐH Y Dược Tp. HCM và ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương hỗ trợ giảng dạy cho 57 sinh viên các môn chuyên ngành về HĐTL với sự hỗ trợ hướng dẫn lâm sàng từ các tình nguyện viên HĐTL quốc tế đến từ Nhật Bản, Đan Mạch và Úc. Theo kế hoạch, tháng 5/2019 chương trình đào tạo thí điểm cử nhân kỹ thuật PHCN chuyên ngành HĐTL hệ liên thông vừa học vừa làm tại ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương sẽ kết thúc với 36 sinh viên tốt nghiệp và tới tháng 7/2020 sẽ có thêm 21 sinh viên tốt nghiệp khoá chính quy tại ĐH Y Dược Tp HCM.
BS Phạm Dũng, Giám đốc MCNV tại Việt Nam, phát biểu tại hội thảo
Vào ngày 21/12/2018, Hội thảo Chia sẻ kết quảDự án Chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh PTTH đã diễn ra tại Khách sạn Hữu nghị, Tp. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Các đại diện của MCNV, Sở Giáo dục – Đào tạo, Sở Y tế, Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh Quảng Trị và gần 30 trường THPT trong toàn tỉnh đã tham dự và chia sẻ tại hội thảo này. Tại hội thảo, MCNV và các bên liên quan đã cùng nhau nhìn nhận lại thực trạng sức khỏe tâm thần (SKTT) ở học sinh THPT, những hoạt động can thiệp mà MCNV cùng đối tác địa phương đã thực hiện trong dự án, những kết quả đáng chú ý và đề xuất định hướng tiếp theo trong thời gian tới.
Dự án Chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh PTTH được triển khai thí điểm tại Trường THPT Vĩnh Linh từ tháng 5/2017 nhằm mục tiêu giảm tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT và có nguy cơ mắc phải các vấn đề SKTT, nâng cao năng lực về chăm sóc SKTT cho giáo viên, và nâng cao kiến thức, thái độ và hành vi của học sinh và phụ huynh trong chăm sóc SKTT. Trước khi triển khai dự án, MCNV đã tiến hành khảo sát thực trạng SKTT học sinh THPT tại tỉnh Quảng Trị. Kết quả khảo sát cho thấy có đến 11,8% học sinh THPT có vấn đề SKTT và 20,86% nguy cơ có vấn đề SKTT.
Sau 18 tháng triển khai dự án, MCNV đã phối hợp cùng Sở Giáo dục – Đào tạo tỉnh Quảng Trị và Trường THPT Vĩnh Linh thực hiện nhiều hoạt động can thiệp khác nhau, bao gồm thành lập tổ tư vấn chăm sóc SKTT ở trường THPT Vĩnh Linh, tập huấn nâng cao kiến thức và kỹ năng về SKTT cho tổ tư vấn và chia sẻ những kiến thức, kỹ năng này với các giáo viên khác trong trường, sử dụng công cụ SDQ25 (của Tổ chức Y tế Thế giới) để khảo sát và theo dõi tình trạng SKTT của học sinh, tư vấn tâm lý cho những học sinh có vấn đề SKTT, tổ chức các hoạt động truyền thông về SKTT ở nhà trường, lớp học, CLB và các buổi họp phụ huynh, cũng như tăng cường chia sẻ thông tin và tương tác về SKTT học sinh thông qua trang Facebook có tên gọi Vững niềm tin. Trong quá trình thực hiện, một số hoạt động của dự án nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ các chuyên gia tâm lý của Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng.
Những hoạt động can thiệp nói trên đã góp phần giúp giáo viên của nhà trường và tổ tư vấn có những kiến thức và kỹ năng cơ bản để phát hiện và can thiệp những học sinh có vấn đề về sức khoẻ tâm thần, đồng thời thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của giáo viên, học sinh và phụ huynh về chăm sóc SKTT. So sánh kết quả khảo sát đầu kỳ và cuối kỳ cho thấy sau 18 tháng thực hiện dự án tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT đã giảm xuống còn 4,97% (so với 9,32% trước can thiệp) và tỷ lệ học sinh nguy cơ có vấn đề SKTT giảm xuống còn 12,88% (so với 17,74% trước can thiệp).
Với những kết quả tích cực của dự án thí điểm này, Sở Giáo dục – Đào tạo tỉnh Quảng Trị và các trường THPT đã đề xuất MCNV tiếp tục nhân rộng mô hình dự án đến các trường THPT khác trong tỉnh. Trước mắt, MCNV cam kết sẽ cố gắng huy động nguồn lực trong thời gian tới để đáp ứng mong đợi này từ phía địa phương.
Để có góc nhìn đầy đủ hơn về Dự án chăm sóc SKTT học sinh trường THPT Vĩnh Linh, các bạn có thể tham khảo tài liệu dành cho giáo viên và học sinh ở mục Góc thông tin của website này và theo dõi phóng sự sau đây về dự án trên YouTube: https://www.youtube.com/watch?v=cDek9rLsw4c&t=53s
Vào ngày 28 tháng 12 năm 2018, tại thị trấn La Hai, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên đã diễn ra Hội thảo tổng kết Dự án Cải thiện dinh dưỡng nông nghiệp (gọi tắt và NSA) giai đoạn 2017-2018 và kỷ niệm 10 năm hợp tác giữa huyện Đồng Xuân và MCNV (2008-2018). Tham dự sự kiện này có các đại diện của MCNV, UBND huyện Đồng Xuân, Trung tâm Y tế, Phòng Giáo dục – Đào tạo, Phòng NN & PTTN huyện Đồng Xuân và UBND 6 xã tham gia dự án.
Tại hội thảo, MCNV và các đối tác địa phương cùng nhau nhìn lại tiến trình thực hiện Dự án NSA, đúc kết các bài học kinh nghiệm và hoạch định kế hoạch của Dự án trong giai đoạn tiếp theo (2019-2020).
UBND huyện Đồng Xuân tặng giấy khen cho cán bộ Văn phòng MCNV miền Trung
Bên cạnh đó, nhân kỷ niệm 10 năm hợp tác giữa huyện Đồng Xuân và MCNV trong các dự án phát triển cộng đồng, tại hội thảo này UBND huyện Đồng Xuân đã trao tặng bằng khen của UBND tỉnh Phú Yên cho cho Tập thể Văn phòng MCNV miền Trung và tặng giấy khen của UBND huyện Đồng Xuân cho cá nhân Ths. Nguyễn Đình Đại, Trưởng Văn phòng MCNV miền Trung, Ths. Bs. Nguyễn Thị Ngọc Lan, Điều phối viên dự án của MCNV và Ths. Nguyễn Thị Lan Phương, Cán bộ quản lý tài chính của MCNV Việt Nam, nhằm ghi nhận những đóng góp của MCNV trong quá trình hợp tác.
Trong giai đoạn 2008-2016, MCNV phối hợp với đối tác địa phương triển khai nhiều hoạt động dự án ở huyện Đồng Xuân, đặc biệt là các can thiệp về phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi. Từ 2017 đến 2020, thông qua Dự án NSA, MCNV tiếp tục can thiệp và nghiên cứu nhằm xác định các kinh nghiệm, kiến thức và tính thực tiễn của các can thiệp có tính nhạy cảm về dinh dưỡng để xác định các giải pháp phù hợp trong việc đề xuất nhân rộng tiếp cận dinh dưỡng nông nghiệp tại các cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi tỉnh Phú Yên, qua đó góp phần cải thiện an ninh lương thực và giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi.
Vào ngày 25/4/2019
tại Thành phố Huế và ngày 26/4/2019 tại Thành phố Tam Kỳ, MCNV cùng với Trung
tâm Sáng kiến Sức khoẻ và Dân số (CCIHP), Sở Y tế của hai tỉnh Thừa Thiên Huế,
Quảng Nam đã tổ chức Lễ giới thiệu và khởi động Dự án “Phát triển dịch vụ phục
hồi chức năng liên chuyên khoa trong chăm sóc trẻ khuyết tật trí tuệ và khuyết
tât phát triển” (gọi tắt là Dự án I THRIVE – Tôi lớn mạnh). Đến tham dự sự kiện,
tại mỗi tỉnh có khoảng 60 đại biểu đến từ USAID; VUSTA; Bộ Y tế; Ủy ban nhân
dân tỉnh; Sở Y tế và các sở, ban, ngành liên quan; Trường Đại học Kỹ thuật Y –
Dược Đà Nẵng; Trường Đại học Y Dược Huế; Hội Người khuyết tật;các bệnh viện tỉnh,
trung tâm y tế huyện tham gia dự án; và các tổ chức đang hỗ trợ người khuyết tật
tại địa bàn tỉnh. Các đại biểu đã chứng kiến lễ ký kết Thỏa thuận hợp tác long
trọng giữa CCIHP, MCNV và Sở Y tế tỉnh Quảng Nam.
Các hoạt động của
Dự án Tôi lớn mạnh tập trung vào 3 mục tiêu:
Nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ Phục hồi
chức năng (PHCN) tuyến tỉnh và huyện trong hoạt động trị liệu (HĐTL), ngôn ngữ
trị liệu (NNTL) và vật lý trị liệu (VLTL);
Phát triển dịch vụ liên chuyên khoa và tăng cường
can thiệp với sự tham gia của cha mẹ trẻ khuyết tật;
Cải thiện và xây dựng hướng dẫn kỹ thuật về can
thiệp cho trẻ tự kỷ và phối hợp liên chuyên khoa PHCN;
Các hoạt động thuộc mục tiêu 1 sẽ do MCNV chịu trách nhiệm triển khai với sự hợp tác của một số trường đại học quốc tế và trong nước. Theo đó, Dự án dự kiến sẽ đào tạo cho 24 kỹ thuật viên (KTV) chuyên ngành HĐTL, 24 KTV chuyên ngành NNTL và 9 KTV chuyên ngành VLTL nhằm phát triển nguồn nhân lực PHCN cho các trung tâm y tế/bệnh viện tại 2 tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam, trọng tâm là tuyến huyện. Sau 1 năm được học lý thuyết và thực hành tại Trường Đại học Kỹ thuật Y – Dược Đà Nẵng và Trường Đại học Y Dược Huế, tất cả 57 học viên sẽ được tình nguyện viên quốc tế hướng dẫn thực hành tại cơ sở y tế nơi mình làm việc. Ngoài ra, Dự án cũng hỗ trợ cho các bệnh viện tỉnh và trung tâm y tế huyện các trang thiết bị phục hồi chức năng cơ bản.
Dự án Tôi lớn mạnh
do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ, Liên hiệp các Hội Khoa học
và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) là Cơ quan chủ quản, CCIHP là Chủ Dự án và MCNV là
đơn vị đồng thực hiện. Thời gian triển khai Dự án là 3 năm, từ tháng 11 năm
2018 đến tháng 10 năm 2021 tại Tỉnh Thừa Thiên Huế và Tỉnh Quảng Nam.
Dự
án được thực hiện với mong đợi thí điểm mô hình cung cấp dịch vụ PHCN liên
chuyên khoa tại tuyến tỉnh và tuyến huyện ở Tỉnh Thừa Thiên Huế và Tỉnh Quảng
Nam để có thể áp dụng rộng rãi ở các địa phương khác.
Đồng bào Bru – Vân Kiều ở khu vực miền núi huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, lấy tre từ những triền đá cheo leo bên những con suối uốn lượn dọc dãy Trường Sơn. Thân tre được cạo vỏ, làm sạch ruột, cắt thành các ống dài 20cm, sau đó được luộc, làm sạch và phơi khô để trở thành những sản phẩm thân thiện với môi trường. Đó chính là những chiếc ống hút tre.
Với sự hỗ trợ của MCNV, 03 nhóm sản xuất ống hút tre với sự tham gia của 21 hộ gia đình hiện đang hoạt động hiệu quả ở các xã Hướng Phùng, Hướng Lập và Hướng Việt, huyện Hướng Hóa. Mỗi nhóm có thể sản xuất trung bình 5.000 ống hút tre mỗi tháng để đáp ứng các đơn đặt hàng, từ đó đem lại thu nhập tốt hơn cho các hộ tham gia. Hỗ trợ của MCNV bao gồm: Tập huấn hướng dẫn sản xuất và quản lý nhóm; Cung cấp máy cắt tre và một số thiết bị khác; Phát triển vùng nguyên liệu tre; Kiểm soát chất lượng & liên kết thị trường. Trong 6 tháng qua, việc sản xuất ống hút tre đã tạo thêm thu nhập khoảng 75 triệu đồng cho các hộ gia đình này, cho phép họ trang trải chi phí cho con cái và sinh hoạt hàng ngày của gia đình.
Sản xuất ống hút tre là hoạt động thuộc Dự ánHỗ trợ trẻ em gái vị thành niên dân tộc thiểu số do MCNV triển khai tại Hướng Hóa. Ở những thôn bản miền núi xa xôi dọc khu vực biên giới Việt – Lào, trẻ em gái vị thành niên đang phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng và dai dẳng: bỏ học, kết hôn sớm, mang thai ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên, không có việc làm và thiếu thu nhập. Những vấn đề này ảnh hưởng xấu đến cuộc sống và tương lai của các em. Giải quyết những vấn đề này đòi hỏi phải có sự can thiệp toàn diện, bao gồm nâng cao nhận thức và truyền thông thay đổi hành vi về sức khỏe sinh sản và tình dục vị thành niên, phát triển kỹ năng sống cho thanh thiếu niên, nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận các dịch vụ giáo dục và y tế, hỗ trợ vật chất, đào tạo nghề và tạo việc làm. Trên hết, nghèo đói được xem là nguyên nhân sâu xa của các vấn đề mà trẻ em gái vị thành niên đang đối mặt. Do đó, điều quan trọng là cần giúp gia đình của các em có thêm thu nhập và công việc ổn định, từ đó họ có thể hỗ trợ tốt hơn cho cuộc sống các em. Sản xuất ống hút tre trở thành một giải pháp tốt để tạo thu nhập, đồng thời hưởng ứng xu hướng sử dụng các sản phẩm thay thế đồ nhựa để bảo vệ môi trường.
Trong thời gian tới, MCNV mong muốn hợp tác với các doanh nghiệp và tổ chức quan tâm đến các sản phẩm thay thế đồ nhựa để giúp các nhóm sản xuất ở Hướng Hóa phát triển thêm nhiều sản phẩm khác từ tre, chẳng hạn như bộ đồ ăn du lịch và đồ dùng trang trí gia đình. Bằng cách tạo ra các sản phẩm tre thay thế các sản phẩm nhựa, đồng bào dân tộc ít người Bru Vân Kiều ở Hướng Hóa không chỉ có thể cải thiện cuộc sống cho con em mình mà còn đóng góp có ý nghĩa cho sự phát triển của xã hội.
Your ticket for the: Những chiếc ống hút tre từ rừng xanh biên giới
Title
Những chiếc ống hút tre từ rừng xanh biên giới
USD
We use cookies to ensure that we give you the best experience on our website. If you continue to use this site we will assume that you are happy with it.OkNo